Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Định nghĩa chất thải nguy hại Thuật ngữ chất thải nguy hại lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70. Sau 1 thời gian nghiên cứu và phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại trong luật và các văn bản dưới luật về môi trường.
Chẳng hạn như:[2] Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985): ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn-semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc có đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác. Công ước Basel không đưa ra một định nghĩa cụ thể về CTNH mà đưa ra các phụ lục trong Công ước, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục I và có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục III, hoặc các chất do nước sở tại quy định trong luật pháp của nước đó, được coi là CTNH (1989) [3]; Chương trình môi trường của Liên hợp Quốc: Ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn- semisolid, và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính,nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay được cho tiếp xúc với chất thải khác. (12/1985) Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng nhất mà con người dù ở bất cứ đâu phải tìm cách để đối phó. Phải hiểu e 5 chất thải nguy hại là gì và tác hại của nó như thế nào mới giúp chúng ta có cơ sở đặt ra các quy định để quản lý nó.
Hiện nay ở Việt Nam có hai văn bản pháp luật nêu định nghĩa về chất thải nguy hại: - Theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người” Luật bảo vệ môi trường ban hành sau này nêu định nghĩa ngắn gọn hơn, rõ ràng hơn và gần như là sự khái quát của định nghĩa trong Quy chế quản lý chất thải nguy hại. - Theo Luật bảo vệ môi trường 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phúng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” Tuy có sự khác nhau về từ ngữ nhưng cả hai định nghĩa đều có nội dung tương tự nhau, giống với định nghĩa của các nước và các tổ chức trên thế giới, đó là nêu lên đặc tính gây huy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại.Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại: Các chất thải nguy hại có thể phát sinh từ rất nhiều nguồn như: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp; hoạt động của công sở, cửa hiệu, trường học; từ các bệnh viện; các hoạt động sinh hoạt khác.[17] * Quá trình sinh ra chất thải nguy hại từ hoạt động sinh hoạt và hoá chất tồn đọng: Thành phần nguy hại trong chất thải rắn từ các hoạt động sinh hoạt bao gồm: - Các thành phần nilon, bao bì bằng chất dẻo: Tỷ lệ nilon, đồ nhựa trong rác thải sinh hoạt chiếm từ 2,7%-8,8%; e 6 - Thành phần pin (có chứa thành phần chì và thủy ngân bên trong) hay keo diệt chuột (có chứa thành phần hóa chất độc hại): Những thành phần này chiếm khối lượng không đáng kể nhưng có nguy cơ gây hại không nhỏ; - Các chi tiết điện và điện tử thải chứa những bộ phận như pin, ác qui thải ở dạng bẹp, vỡ chiếm từ 0,07% - 1,12% - Ô nhiễm phóng xạ từ sự rò rỉ phóng xạ, rác thải hạt nhân. - Các thành phần nguy hại từ các cơ sở dịch vụ chủ yếu bao gồm các cặn kim loại, dầu mỡ, giấy, giẻ có thấm dầu mỡ từ dịch vụ sửa chữa xe, lõi nhựa chứa mực in từ các cơ sở photocopy và các loại vỏ hộp. Tổng lượng chất thải rắn nguy hại từ các cơ sở dịch vụ thông thường chiếm khoảng 36,9% (trong đó, cặn kim loại chiếm 1,6%; dầu mỡ thải, giấy, giẻ thấm dầu chiếm 23,4%; nhựa, hoá chất, sơn chiếm 11,1 %; vỏ hộp hoá chất chiếm 0,8 %).
Các lõi mực in của máy photocopy, biến thế hỏng được các chủ phát sinh thu gom và bán lại cho người thu mua phế liệu. * Quá trình sinh ra chất thải nguy hại từ hoạt động công nghiệp: - Chất thải rắn nguy hại: bao gồm khí thải độc hại, hóa chất ở dạng lỏng, chúng dễ gây ra cháy nổ, ngộ độc, tác động không tốt đến sức khỏe của con người và dễ ăn mòn nhiều vật chất khác. - Chất thải rắn như sắt thép kim loại bị gỉ cũ kĩ gây ít hoặc không nguy hại nhưng chúng cần phải được xử lý dọn dẹp hay tái chế cẩn thận. * Quá trình sinh ra chất thải nguy hại từ hoạt động y tế: Các loại chất thải nguy hại điển hình phát sinh từ các hoạt động của bệnh viện gồm: - Các chất thải trong quá trình phẫu thuật người, động vật, bao gồm các bộ phận cơ thể và các tổ chức nội tạng; - Các vật nhọn sắc và dễ gãy có tiếp xúc với máu, mủ trong quá trình mổ xẻ; các chất lỏng sinh học hoặc giấy thấm đã được sử dụng trong y tế, nha khoa; - Các gạc bông băng có máu, mủ của bệnh nhân; - Các loại ống nghiệm nuôi cấy vi trùng trong các phòng xét nghiệm; e 7 - Các chất thải ra trong quá trình xét nghiệm; - Các loại thuốc quá hạn sử dụng.
- Hầu hết các chất thải bệnh viện là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù khác với các loại khác, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược. * Ô nhiễm phóng xạ từ sự rò rỉ phóng xạ, rác thải hạt nhân: đang là mối đe dọa nghiêm trọng cho sự an toàn của cuộc sống con người trên hành tinh. Trong cuộc sống hiện đại, nhân loại đang hứng chịu nhiều tai họa, trong đó họa do chính con người gây ra ô nhiễm do rò rỉ phóng xạ, rác thải hạt nhân và việc sử dụng vũ khí hạt nhân.Các tác nhân chính gây hại chứa trong chất thải nguy hại: Chất thải nguy hại chứa một hoặc nhiều tác nhân chính gây hại cho con người như sau: 1.
Arsenic (Thạch tín - As) được sử dụng trong hợp kim của mạch điện, trong thuốc trừ sâu và chất bảo quản gỗ; có độc tính mạnh và khả năng gây ung thư cao. Amiang đã từng được sử dụng rộng rãi làm làm vật liệu cách nhiệt trong ngành xây dựng; vẫn được sử dụng trong các miếng đệm, má phanh, tấm lợp và các vật liệu khác. Khi hít phải có thể gây ung thư và trung biểu mô. Cađimi (Cd) được sử dụng trong pin, chất nhuộm, lớp phủ bề mặt kim loại và nhựa.
Cơ thể con người tiếp xúc với Cd từ các hoạt động tại nơi làm việc, từ khói thuốc lá và thức ăn bị nhiễm độc. Cd là tác nhân gây huỷ hoại phổi, gây bệnh thận và làm kích ứng đường tiêu hoá. Crôm (Cr) kết hợp dễ dàng với các kim loại khác hình thành các hợp kim, ví dụ thép không gỉ. Cr được sử dụng làm lớp phủ chống gỉ lên các kim loại khác, tạo màu trong sơn, chứa trong chất bảo quản gỗ và các dung dịch e 8 thuộc da.
Khi nhiễm Cr(VI) sẽ gây ung thư, rối loạn gen và nhiều bệnh khác. Chất thải y tế: Các loại chất thải y tế nếu không xử lý trước khi đưa ra môi trường có thể gây nhiễm trùng, truyền mầm bệnh và các vi khuẩn có hại. Xyanua (CN-) là một chất độc mà ở liều cao có thể gây ra tê liệt, rối loạn và ngừng thở; tiếp xúc lâu dài ở liều thấp có thể gây mệt mỏi và làm giảm sức khoẻ. Khí hydro xyanua nén được sử dụng để trừ các loại động vật gặm nấm, côn trùng trên tầu thuỷ và trên cây cối.
Chì (Pb) được sử dụng trong sản xuất pin, đạn dược, sản phẩm kim loại (như que hàn và ống thép), các thiết bị chắn tia X- quang. Nếu ăn hay hít phải Pb có thể gây hại cho hệ thần kinh, thận và hệ sinh sản. Thuỷ ngân (Hg) được sử dụng trong sản xuất khí clo, sôđa ăn da, nhiệt kế, chất hàn răng và pin. Hg tiếp xúc với cơ thể thường xảy ra qua đường không khí, nước, thức ăn bị nhiễm thuỷ ngân hoặc chữa trị y khoa và nha khoa.
Nhiễm độc mức cao có thể huỷ hoại não, thận và bào thai. PCB (PolyChloritnated Biphenyls) là các hợp chất được sử dụng trong công nghiệp làm chất lỏng trao đổi nhiệt, trong biến thế và tụ điện, làm phụ da trong sơn, giấy sao chụp không có các bon, chất bịt kín và nhựa. PCB gây tác động xấu đến hệ thần kinh, hệ sinh sản, hệ miễn dịch và gan. POP (Persistent Organic Polutants - Chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ): Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ là một nhóm các hoá chất và thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường, có khả năng phát thải và tích luỹ sinh học lớn; do vậy đe dọa con người và động vật ở cuối chuỗi thức ăn, gây một loạt tác hại về sức khoẻ.
Axit và kiềm mạnh: Các dung dịch ăn mòn mạnh được sử dụng trong công nghiệp có thể ăn mòn kim loại và phá huỷ các mô sinh vật sống. Phóng xạ với sức khỏe con người: Những tác hại của tai nạn hạt nhân là vô cùng nguy hiểm, từ việc gây sát thương trực tiếp đến gây bệnh do nhiễm phóng xạ cấp tính, mãn tính, hỗn hợp, tổn thương các bộ phận trên cơ thể con người, tàn phá môi trường trên diện rộng, gây tác hại lâu dài.