CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ CTNH 1. Giới thiệu chung 1. Khái niệm CTNH, CTNH của hoạt động công nghiệp 1. Khái niệm về CTNH Thuật ngữ CTNH lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70,sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CTNH trong luật và các văn bản dưới luật về môi trường.
Philiphin: CTNH là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, họat tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người, và động vật. Canada: CTNH là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường; những chất này yêucầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để lọai bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó. Trong Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985): ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, CTNH là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn - semisolid, và các bình chứa khí) mà do họat tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác. Mỹ: Được đề cập trong luật RCRA (the Resource Conservation and Recovery Act-1976), chất thải (dạng rắn, dạng lỏng, bán rắn-semisolid, và các bình khí) có thể được coi là CTNH khi nằm trong danh mục chất thải,CTNH (gồm 4 danh sách) có một trong 4 đặc tính (khi phân tích): cháy-nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) công bố là CTNH.
Bên cạnh đó, CTNH còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở liều lượng nhỏ. Đối với các chất chưa có chứng minh của nghiên cứu dịch tễ trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán tác dụng độc tínhcủa chúng lên con người. Việt Nam:Tiếp cận khái niệm CTNH từ khi tham gia Công ước quốc tế BASEL 1989 (sau đây gọi tắt là Công ước BASEL) về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các CTNH và việc tiêu hủy chúng, thì CTNH được cho là các chất thải thuộc 5 một trong những loại ghi trong phụ bản I của Công ước BASEL, trừ khi các chất thải này không có 1 tính chất gì ghi trong phụ bản III của Công ước BASEL. Nếu các phế thải nêu trên ít nhất một trong các thuộc tính được nêu trong danh sách các đặc tính nguy hiểm của chất thải như: vật liệu dễ nổ, dễ cháy, ăn mòn, gây dịch bệnh, có độc tính,…).
Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, lần đầu tiên CTNH được luật hóa tại Điều 23 “Tổ chức, cá nhân sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ, huỷ bỏ các chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ, phải tuân theo quy định về an toàn cho người, sinh vật, không gây suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường. Chính phủ quy định danh mục các chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ”. Trên cơ sở đó, ngày 16 tháng 7 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế QLCTNH; tại Khoản 2 Điều 3 đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm hết sức cụ thể:“CTNH là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người. Danh mục các CTNH được ghi trong Phụ lục 1 kèm theo Quy chế này.
Danh mục này do cơ quan quản lý nhà nước về BVMT cấp trung ương quy định”. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, khái niệm này tiếp tục được luật hóa tại Khoản 11, Điều 3: “CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” và khái niệm này đang được sử dụng rộng rãi trong QLCTNH hiện nay. Hiện nay, chúng ta mới chỉ coi CTNH ở thể rắn và thể lỏng là CTNH cần phải quản lý còn thể khí, hơi chưa được coi là CTNH, dù dạng chất thải này trong thực tế đôi khi cực kỳ nguy hại cho sức khỏe và môi trường sinh thải. Trong danh mục CTNH hiện nay, CTNH được phân thành hai nhóm: - Nhóm một sao “*”: Là nhóm chỉ được khẳng định là CTNH khi được phân định (có kết quả phân tích) và có ít nhất 01 chất nguy hại thành phần vượt ngưỡng QCVN 07:2008/BTNMT về ngưỡng CTNH.
Khi một CTNH nhóm “*” nếu không 6 có kết quả phân định thì phải quản lý như CTNH (vỏ bao bì nhiễm thành phần nguy hại, bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải, tro bay, tro xỉ lò đốt chất thải công nghiệp, giẻ lau dính thành phần nguy hại,…). - Nhóm hai sao “**”: Được quy ước đương nhiên là CTNH, không cần phải có kết quả phân định như: dầu thải, pin ắc quy thải, hóa chất, cặn sơn, mực in, nước nhiễm dầu,. CTNH của hoạt động công nghiệp Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005, chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Một khối chất thải được gọi là CTNH khi khối chất thải đó chứa ít nhất một trong cácyếu tố: độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác.Từ khái niệm trên ta nhận thấy: CTNH công nghiệp là chất thải phát sinh từ khu vực sản xuất công nghiệp có chứa ít nhất một trong các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc,… Theo quy định của Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy chế quản lý CTNH thì một khối chất thải chỉ được gọi là CTNH khi nó thuộc danh mục ban hành kèm theo Thông tư này, như vậy ta có thể hiểu một cáchđầy đủ: CTNH công nghiệp là chất thải phát sinh từ các tổ chức sản xuất,kinh doanh dịch vụ, thuộc danh mục CTNH hoặc có chứa ít nhất một trong những yếu tố nguy hại theo quy định của pháp luật.
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu CTNH công nghiệp, đây cũng chính là phạm vi và mục tiêu nghiên cứu nhằm đề xuất hoàn thiện mô hình quản lý hiệu quả CTNH công nghiệp. Phân loại CTNH, CTNH của hoạt động công nghiệp Mục đích của việc phân loại CTNH là để tăng cường thông tin liên quan đến CTNH. Tuỳ vào mục đích, yêu cầu sử dụng thông tin cụ thể mà có các cách phân loại khác nhau: 7 1. Hệ thống phân loại chung Đây là hệ thống phân loại dành cho những người có chuyên môn nhằm đảm bảo tính thống nhất về các danh mục được pháp luật quy định và thuật ngữ sử dụng.
Hệ thống phân loại này dựa trên Danh mục được xác định cụ thể trong các văn bản pháp luật đã được ban hành và đặc tính của CTNH được quy định cụ thể trong Công ước Basel về vận chuyển CTNH xuyên biên giới và Quy chế QLCTNH của Việt Nam. Việc áp dụng hệ thống phân loại theo đặc tính của CTNH hoặc theo danh mục nhằm đảm bảo cho hoạt động phân loại, lưu giữ, vận chuyển CTNH được an toàn tuyệt đối, hạn chế những tương tác do CTNH gây ra: cháy, nổ, ăn mòn, phản ứng hoá học,… Ngoài ra, mỗi loại CTNH có phương pháp xử lý phù hợp với đặc tính riêng nên việc phân loại này còn giúp cho hoạt động xử lý CTNH được thuận tiện, nhanh chóng, triệt để và tiết kiệm tối đa chi phí xử lý. Phân loại theo luật định Phân loại theo luật định là hệ thống phân loạiđược quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. - Theo Công ước Basel: Căn cứ vào 20 nguồn phát sinh CTNH (từ Y1 – Y18, Y46, Y47) và theo 27 thành phần chứa trong CTNH (từ Y19 – Y45)- Phụ lục I và II.
Phụ lục III phân loại theo đặc tính của CTNH gồm10 nhóm sau: (1) Vật liệu/phế thải dễ nổ; (2) Vật liệu/phế thải dễ cháy; (3) Vật liệu/phế thải là nguyên liệu đốt cháy– Peroxyde hữu cơ; (4) Vật liệu/phế thải có độc tính cấp; (5) Vật liệu/phế thải gây lây lan dịch bệnh; (6) Vật liệu/phế thải ăn mòn; (7) Vật liệu/phế thải giải phóng khí độc khi tiếp xúc với không khí và nước; (8) Vật liệu/phế thải có thể gây tác hại cho con người; (9) Vật liệu/phế thải có thể gây tác hại cho hệ sinh thái; (10) Vật liệu/phế thải sau tiêu huỷ có thể phát sinh sản phẩm có chứa một trong các đặc tính nêu trên. - Theo Quy chế QLCTNH ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT- BTNMTngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc phân 8 loại cũng theo hai nhóm chính: Phân loại theo đặc tính gồm bảy nhóm và phân loại theo nguồn và dòng thải chính gồm 19 nhóm. Ngoài ra, còn có hệ thống phân loại dành cho công tác quản lý: Hệ thống phân loại này nhằm đảm bảo nguyên tắc CTNH được kiểm soát chặt chẽ từ nơi phát sinh, quá trình vận chuyển đến nơi xử lý, thải bỏ cuối cùng. Hệ thống phân loại này gồm 02 hệ thống thành phần: (1) Hệ thống phân loại theo nguồn phát sinh; (2) Hệ thống phân loại theo đặc điểm CTNH.
Tính chất và thành phần của CTNH công nghiệp 1. Tính chất của CTNH Các chất thải được phân loại là CTNH khi có ít nhất một trong các tính chất sau: - Dễ cháy: Chất lỏng dễ cháy là các chất lỏng, hỗn hợp chất lỏng hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng có nhiệt độ chớp cháy không quá 550C; chất thải rắn dễ cháy: là các chất rắn có khả năng sẵn sàng bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển; chất thải có khả năng tự bốc cháy là chất rắn hoặc lỏng có thể tự nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng bắt lửa. Đặc tính dễ cháy sẽ gây ra hỏa hoạn, bỏng, làm ô nhiễm không khí và nguồn nước.