Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan về nguồn thải 1. Các khái niệm Theo luật Tài nguyên nước số 17/20212/QH13 ban hành ngày 21 tháng 6 năm 2012 gồm có các khái niệm: - Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biến thuộc lãnh thé của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
- Nguồn nước nội tinh là nguồn nước phân bồ trên địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. - Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và thoát ra một cửa chung hoặc thoát ra biển. - Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. - Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó (Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ban hành ngày 21/6/2013, 2012).
Theo quyết định số 154/QD-TCMT ngày 15 tháng 02 năm 2019 về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật tính toán sức chịu tải nguồn nước sông có một số khái niệm liên quan như sau: - Khả năng tiếp nhận nước thải là khả năng của nguồn nước có thê tiếp nhận thêm một tải lượng chất ô nhiễm nhất định mà vẫn bảo đảm nồng độ các chất ô nhiễm trong nguồn nước không vượt quá giá trị giới hạn được quy định trong các quy chuẩn chat lượng nguồn nước cho mục đích sử dụng của nguồn tiếp nhận. - Tải lượng 6 nhiễm: là tổng của một thông số ô nhiễm phát sinh từ 1 hay nhiều nguồn thải trên một đơn vị thời gian. - Sức chịu tải của nguồn nước là tải lượng ô nhiễm lớn nhất của từng thông số ô nhiễm được đưa vào nguồn nước, mà chất lượng nước van đạt quy chuẩn theo các mục tiêu sử dụng nước đã được xác định. - Khả năng tự làm sạch của nguồn nước là khả năng loại bỏ, giảm thiểu các chất ô nhiễm thông qua các quá trình vật lý, hóa học, sinh học xảy ra trong nguồn nước (Tổng Cục Môi Trường, 2019).
Phân loại các nguồn thải Theo Quyết định số 154/QĐ-TCMT ngày 15 thang 02 năm 2019 về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật tính toán sức chịu tải nguồn nước sông mục 3 phần II đã phân loại các loại nguồn thải như sau: Bang 1. Phân loại nguồn thải và các thông tin dữ liệu cần thu thập dé nhận biết nguon 6 nhiém Nguồn 6 Thông tin va dữ liệu cần thu thập dé M Neanh nhiém gan nhận biết nguồn ô nhiễm Các co sở xử ly nước thải (khu vực thu gom, dân Sinh hoạt số, chất lượng và tổng tải lượng nước đã xử lý), công nghệ xử lý nước thải. Số lượng gia súc, gia cầm, doanh thu, diện tích Chăn nuôi cơ sở chăn nuôi, vi trí, dung tích xả thai, nồng độ Nguồn điểm nước thải, công nghệ xử lý nước thải. Ngành, loại sản phẩm, doanh thu, số lao động, Công nghiệp diện tích cơ sở, vi trí, thải lượng, nồng độ nước thải, công nghệ xử lý nước thải.
Khác Phụ thuộc vào loại hình nguồn ô nhiễm 7 Diện tích, sản lượng và loại sản pham nông x_ phân Nguồn ,„ Trồngg trot irc nghiệp, 8 ep khối lượng ong và loại 4 hóa chất nông g nghiệ nghiệp „ sử dụng tán v = TA ur r 5 7 ee oN Chan nuôi Diện tích, sô lượng va loại gia súc, gia cam Khác Phụ thuộc vào loại hình nguồn ô nhiễm Ngoài ra, căn cứ tại Điều 3 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật bảo vệ môi trường có nêu: - “20. Nguồn ô nhiễm điểm là nguồn thải trực tiếp chất ô nhiễm vào môi trường phải được xử lý và có tính chất đơn lẻ, có vị trí xác định. Nguồn 6 nhiễm diện là nguồn thải chat 6 nhiễm vào môi trường, có tinh chất phân tán, không có vị trí xác định”. Vì vậy, đối với hiện trạng nguồn thải tại sông Ông Đốc, sẽ được phân chia thành 2 nguồn chính bao gồm: Nguồn ô nhiễm điểm và nguồn ô nhiễm diện.
Các loại ô nhiễm Theo Văn phòng Quan lý Môi trường các Vùng ven biển Khép kín (2011) hướng dẫn áp dụng hệ thống kiểm soát tông tải lượng ô nhiễm của bộ Môi trường Nhật Bản phân loại ô nhiễm như sau: - Loại ô nhiễm đầu tiên là loại ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người từ các kim loại nặng và các chất hóa học nguy hại được thải trực tiếp vào các vùng nước. Loại ô nhiễm đầu tiên này cũng ảnh hưởng đến các sinh vật dưới nước, ví dụ như khiến cho các loài cá bị đị tật, suy yếu và bị chết. Có rất nhiều kim loại nặng và các chất hóa học nguy hại gây ra những tác hại đó, tiêu biểu là cadimi, chì, crôm hóa tri sáu, thủy ngân, thạch tín, biphenyl polyclua hóa (PCB), và xyanua. Những chat này được thải ra từ ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng san, hay được sử dụng làm hóa chất bảo vệ thực vật và thuốc điệt cỏ, tuy nhiên chúng đã được đưa vào danh sách các đối tượng chịu sự quy định của Tiêu chuẩn Chất lượng Môi trường về Ô nhiễm nước ở các quốc gia, và bị hạn chế hoặc bị cấm dựa trên các đặc tính độc hại của chúng.
Ngoài ra, còn có những chất ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên thoát ra từ mạch nước ngầm, v. - Loại ô nhiễm thứ hai là loại gây ra các vấn đề về mặt sức khỏe cộng đồng do vi khuẩn dé gây ra các bệnh truyền nhiễm như bệnh tả, kiết ly. Các bệnh truyền nhiễm gây nguy hiểm cho sức khỏe con người khi việc xử lý nước thải gia đình như xử lý nước thải đen (phân và nước tiểu) không thích hợp, thải ra mà không hề qua xử lý, hoặc khi hòa lẫn với nước uống. Do đó, cần thực hiện một phương pháp xử lý toàn điện nước thải đen và tách hoàn toàn hệ thống cấp nước và thoát nước của thành phố.
Ở Nhật, luật pháp yêu cầu nước thải đen phải được xử lý bằng một trong 3 cách sau: thải vào hệ thống thoát nước, thải ra sông sau khi được xử lý trong bề tự hoại, hoặc được thu gom từ nhà vệ sinh dạng xả nước và xử lý tập trung. - Loại thứ ba là ô nhiễm hữu cơ. Mức độ ô nhiễm hữu cơ được thể hiện bằng các chỉ số như nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), và tổng carbon hữu cơ (TOC). Một phần các chất hữu cơ chảy vảo từ tự nhiên do ăn mòn hay từ xác động vật, tuy nhiên các chất hữu cơ cũng được tìm thấy trong nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp từ các nha máy thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ô nhiễm nước xảy ra chủ yếu do sự gia tăng của tải lượng thải ra từ những hoạt động này của con người. Các chất hữu cơ trong vùng nước bị phân hủy bởi các sinh vật sông trong nước và nhờ đó môi trường nước được duy trì. Nếu lượng chất hữu cơ chảy vào vượt quá khả năng phân hủy, ô nhiễm tiến triển và chất lượng nước dần bị suy thoái. Đồng thời, nước dần giảm đi độ trong suốt, tỏa ra mùi hôi và chuyên từ mau tự nhiên sang mau xanh lục, nâu, hoặc nâu đỏ.
Theo đó, xuất hiện các vấn đề trong sử dụng nước như ô nhiễm nước uống hay ngư nghiệp bị thiệt hại, và môi trường sống dan dần suy thoái. Thêm vào đó, những chất hữu cơ không tan tích tụ thành bùn cặn dưới đáy hồ, sông, biển. Để giảm tải chất hữu cơ chảy vào từ nước thải như thế này, các nước đã thực hiện điều chỉnh thông qua luật. - Loại thứ tư là hiện tượng phú dưỡng, có liên quan đến ô nhiễm chất hữu cơ đã được trình bày ở trên trong loại ô nhiễm thứ ba.
Sự phú dưỡng xuất hiện bởi các chất dinh dưỡng là hợp chất của nitơ và phốt pho, chảy vào từ lưu vực. Sinh vật phù du và rong tảo sinh sôi mạnh mẽ khác thường và tiêu thụ oxy hòa tan trong nước. Thiếu ôxy khiến các sinh vật trong nước chết và gây ra nhiều van dé trong sử dụng nước như môi trường sống suy thoái, ảnh hưởng đến ngư nghiệp, ô nhiễm nước uống, v. Sinh vật phù du và rong tảo có thể sinh ra các chất có hại.
Sự xuất hiện bất thường của các sinh vật phù du gây ra thủy triều đỏ, làm cá suy yếu và bị chết, xác của chúng sau đó sẽ tích tụ dưới đáy, hình thành khối nước thiếu oxy ở lớp đáy. Khối nước thiếu oxy này tiếp tục gây ra những ảnh hưởng nghiêm trong dẫn đến các sinh vật đưới đáy như các loài giáp xác bị suy yêu và chết đi. Các nguồn chính gây ô nhiễm Các nguồn chính ô nhiễm Đặc điểm Các nhà máy và cơ sở kinh doanh Tải lượng ô nhiễm tăng lên bao gồm bệnh viện, khách sạn và cùng với sự mở rộng của các (1) Công nghiệp quán trọ, căn tin, tiệm giặt ui, nha hoạt động kinh tê, sản xuât tắm, trạm xăng, xưởng sửa 6 tô, công nghiệp. và lò mô gia cam, v.
Tải lượng ô nhiễm tăng lên Sinh hoạt của con người (Nước cùng với sự tăng trưởng dân thải sinh hoạt được phân loại số và sự tập trung dân cư ở thành phân và nước tiểu (nước các đô thị. Tải lượng này (2) Sinh hoạt thải đen) và các nước thải khác cũng thay đổi tùy theo lối (nước thải xám). Nước thải xám sống, mức sống và thói quen phát sinh từ quá trình nấu ăn, tắm sông như dạng nhà vệ sinh rửa, giặt gill, v.) (bồn xả nước, bồn ngồi xôm), tân suât tam, v. Chat bài tiệt từ gia súc, ngựa, heo, “Tải lượng ô nhiễm tăng lên.
(3) Chăn nuôi gia câm, và các động vật khác. theo số lượng gia súc chăn Nước rửa chuông trại NUÔI. Phân bón và các hóa chất bảo vệ Tải lượng ô nhiễm tăng lên thực vật không được hấp thụ vào theo lượng phân hóa học (4) Đất nông trong hoa màu, và những chất hữu được sử dụng. Tải ô nhiễm nghiệp cơ từ các nhánh cây chết, lá rụng chảy ra vùng nước bởi còn lại trên đất nông nghiệp những trận mưa, V.
Cơ sở khoa học 1.