Tổng quan nghiên cứu
Sau nhiều thập kỷ chịu tác động từ chiến tranh và khai thác quá mức, tài nguyên rừng Việt Nam từng rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, khi tỷ lệ che phủ toàn quốc giảm xuống mức đáy 27,2% vào năm 1990 trước khi phục hồi lên 33,2% vào năm 1999. Nhằm khôi phục vốn rừng và bảo vệ an ninh môi trường sinh thái, Dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng (thường gọi là Chương trình 661) đã được triển khai trên cả nước từ năm 1998 theo Quyết định số 661/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành được giao quản lý diện tích tự nhiên 11.247,95 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 10.690,35 ha.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá thực trạng sinh trưởng, phát triển của rừng trồng gỗ lớn và hiệu quả quản lý đất đai sau khi Dự án 661 chính thức kết thúc vào năm 2010. Luận văn đặt mục tiêu điều tra các chỉ tiêu lâm sinh của loài cây bản địa Lát hoa (Chukrasia tabularis), so sánh biến động hiện trạng rừng giữa hai cấp quản lý gồm Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành và Ủy ban nhân dân xã Thạch Tượng, đồng thời đề xuất giải pháp duy trì kết quả dự án. Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2017 trên các lâm phần rừng trồng các năm 2003, 2004 và 2005 (tuổi 12 đến 14). Kết quả mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, phản ánh quá trình nâng độ che phủ rừng tại Ban Quản lý từ 62,8% năm 1998 lên 74,8% năm 2010, đóng góp tích cực vào tỷ lệ che phủ 45,25% trên 25.307,86 ha đất có rừng của toàn huyện Thạch Thành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chu trình quản lý dự án (Project Management Cycle) gồm 5 giai đoạn cốt lõi: xác định dự án, xây dựng dự án, thẩm định dự án, thực thi giám sát và tổng kết đánh giá dự án. Luận văn tập trung chuyên sâu vào giai đoạn đánh giá cuối cùng (Ex-post evaluation) nhằm kiểm tra khách quan tính bền vững của các kết quả lâm sinh và kinh tế - xã hội sau khi dự án kết thúc.
Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết lâm nghiệp xã hội và nguyên lý quản lý rừng bền vững để phân tích mối quan hệ giữa thể chế quản lý, sinh kế cộng đồng và độ ổn định của hệ sinh thái rừng. Các khái niệm chính bao gồm: Rừng phòng hộ (hệ sinh thái rừng giữ chức năng bảo vệ đất, nguồn nước và giảm nhẹ thiên tai); Cây phù trợ (loài cây sinh trưởng nhanh che bóng và cải tạo đất trong giai đoạn đầu); Tỉa thưa nuôi dưỡng (biện pháp kỹ thuật lâm sinh loại bỏ cây phù trợ để tạo không gian dinh dưỡng cho cây mục đích); và Tăng trưởng lâm phần (các chỉ số định lượng về đường kính, chiều cao và thể tích thân cây theo thời gian). Mô hình trồng xen Lát hoa kết hợp Keo theo tỷ lệ 1:1 với mật độ ban đầu 1.660 cây/ha được sử dụng làm khung đối chứng kỹ thuật lâm học xuyên suốt.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết Chương trình 661 của Ban Điều hành Trung ương, Quyết định số 2755/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về rà soát 3 loại rừng, kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ điều tra thực địa.
Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng để lập 9 ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích 500 m2 mỗi ô (kích thước 20m x 25m), phân bổ đều thành 3 ô cho mỗi cấp tuổi rừng trồng năm 2003 (tuổi 14), năm 2004 (tuổi 13) và năm 2005 (tuổi 12) tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành. Việc chọn mẫu điển hình giúp bảo đảm tính đại diện cao cho các điều kiện lập địa trên nền đá sa thạch và phiến thạch sét có tầng đất dày trên 50 cm.
Dữ liệu điều tra cây gỗ được xử lý trên phần mềm chuyên dụng Excel và SPSS nhằm xác định các đặc trưng thống kê sinh học. Thể tích thân cây đứng V được tính theo công thức V = G * Hvn * f, trong đó tiết diện ngang G = 3,14 * (D1.3)^2 / 4, chiều cao vút ngọn Hvn, và hình số giả định f = 0,45 áp dụng cho rừng trồng. Tăng trưởng đường kính bình quân hàng năm ∆D = Dtb/A và tăng trưởng chiều cao ∆H = Htb/A (với A là tuổi cây) cung cấp căn cứ định lượng chính xác để đánh giá quy luật phát triển của lâm phần trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cây Lát hoa thích nghi xuất sắc và sinh trưởng ổn định trên địa bàn huyện Thạch Thành. Ở cấp tuổi 14 (rừng trồng năm 2003), đường kính trung bình D1.3 đạt 17,01 cm với mức tăng trưởng đường kính hàng năm ∆D đạt 1,22 cm/năm, chiều cao vút ngọn Hvn đạt 19,29 m (∆H đạt 1,38 m/năm). Rừng 13 tuổi (trồng năm 2004) đạt Dtb = 15,46 cm (∆D = 1,19 cm/năm), Hvn = 16,55 m (∆H = 1,24 m/năm). Rừng 12 tuổi (trồng năm 2005) đạt Dtb = 14,78 cm (∆D = 1,23 cm/năm), Hvn = 16,86 m (∆H = 1,40 m/năm).
Thứ hai, trữ lượng lâm phần Lát hoa tích lũy mạnh mẽ sau khi hoàn thành tỉa thưa toàn bộ cây phù trợ Keo. Mật độ cây trồng chính hiện dao động từ 520 cây/ha (rừng năm 2005) đến 580 cây/ha (rừng năm 2004). Trữ lượng bình quân của rừng trồng năm 2003 đạt 135,08 m3/ha với tốc độ tăng trưởng trữ lượng 9,65 m3/ha/năm, cao hơn 30,6% so với rừng năm 2004 (103,41 m3/ha, tăng trưởng 7,95 m3/ha/năm) và vượt 61,2% so với rừng năm 2005 (83,76 m3/ha, tăng trưởng 6,98 m3/ha/năm).
Thứ ba, cơ chế quản lý sau dự án tạo ra sự phân hóa sâu sắc về hiện trạng rừng. Tổng diện tích 1.337,2 ha rừng trồng ban đầu thuộc Dự án 661 tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành chỉ còn lại 305,0 ha giữ được nguyên vẹn chức năng phòng hộ với cây bản địa Lát hoa. Phần diện tích 547,9 ha được chuyển sang rừng sản xuất đã bị khai thác để trồng Keo tai tượng lấy nguyên liệu giấy, tương tự như 306,2 ha bàn giao cho xã Thạch Tượng quản lý.
Thảo luận kết quả
Sinh trưởng đường kính của Lát hoa dao động từ 1,19 đến 1,23 cm/năm và chiều cao từ 1,24 đến 1,40 m/năm phản ánh sự phù hợp cao của loài cây này với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa 1.600 - 1.700 mm/năm và độ ẩm 86% tại Thạch Thành. Việc trồng xen 830 cây Keo kết hợp 830 cây Lát hoa/ha và tiến hành tỉa thưa cây Keo ở giai đoạn 5-6 tuổi đã thành công trong việc tạo bóng che ban đầu, hạn chế cỏ dại và mở rộng không gian dinh dưỡng đúng thời điểm cho cây gỗ lớn phát triển.
Để làm nổi bật các biến động này trong các báo cáo khoa học, dữ liệu sinh trưởng lâm học có thể được trực quan hóa qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao theo từng cấp tuổi từ 12 đến 14. Đồng thời, biểu đồ cột so sánh trữ lượng bình quân (135,08 m3/ha so với 83,76 m3/ha) sẽ minh họa trực tiếp quy luật tích lũy sinh khối tăng dần theo thời gian. Bảng tổng hợp cơ cấu đất đai chuyển đổi cũng là công cụ trực quan phản ánh sự suy giảm 77,2% diện tích rừng gỗ lớn (từ 1.337,2 ha xuống 305,0 ha) khi thiếu các chính sách hỗ trợ sinh kế dài hạn cho hộ nhận khoán.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch và kỹ thuật nuôi dưỡng 305,0 ha rừng Lát hoa phòng hộ hiện có. Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành cần phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa tiến hành tỉa thưa vệ sinh, phát dọn thực bì định kỳ, phấn đấu đạt mục tiêu đường kính bình quân thân cây từ 20 đến 22 cm trong giai đoạn 2018 - 2025.
Thứ hai, thiết lập cơ chế tài chính hỗ trợ sinh kế và chi trả dịch vụ môi trường rừng bền vững. Ủy ban nhân dân huyện Thạch Thành cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cần bảo đảm mức hỗ trợ nhận khoán bảo vệ rừng tối thiểu từ 400.000 đến 500.000 đồng/ha/năm cho hơn 8.000 hộ dân vùng đệm trong khung thời gian 2018 - 2022 nhằm hạn chế áp lực chặt phá rừng tự nhiên và rừng phòng hộ.
Thứ ba, chuyển giao kỹ thuật thâm canh và chuyển hóa rừng gỗ lớn cho chính quyền cấp xã. Hạt Kiểm lâm Thạch Thành chủ trì tổ chức từ 10 đến 15 lớp tập huấn kỹ thuật lâm sinh trong giai đoạn 2018 - 2020 cho các hộ dân tại xã Thạch Tượng (quản lý 306,2 ha) và các xã lân cận, hướng dẫn kỹ thuật tỉa cành, nuôi dưỡng cây Keo sang chu kỳ gỗ lớn thay vì khai thác non làm dăm giấy.
Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra và ngăn chặn lấn chiếm đất lâm nghiệp. Lực lượng kiểm lâm địa bàn phối hợp với các đội bảo vệ rừng chuyên trách duy trì tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt 6.129,4 ha diện tích rừng hiện có, kiên quyết xử lý tình trạng chuyển đổi đất rừng trái phép sang trồng mía hoặc cao su tự phát đến năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý rừng phòng hộ: Tài liệu cung cấp căn cứ thực chứng về chuyển đổi quy hoạch 3 loại rừng, hỗ trợ xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và thiết kế chính sách giao khoán đất lâm nghiệp dài hạn.
Thứ hai, cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp và khuyến nông: Tham khảo quy trình kỹ thuật lâm sinh trồng xen Lát hoa kết hợp cây Keo với mật độ 1.660 cây/ha, kỹ thuật điều tiết mật độ sau 5-6 năm để ứng dụng vào các chương trình phục hồi rừng gỗ lớn bản địa.
Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp: Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về đánh giá ex-post dự án lâm sinh, hệ thống dữ liệu 9 ô tiêu chuẩn thực tế cùng các thuật toán xác định thể tích, trữ lượng thân cây đứng với hình số giả định f = 0,45.
Thứ tư, các chủ rừng và hộ gia đình nhận khoán đất rừng: Giúp người dân hiểu rõ chu kỳ kinh tế và khả năng sinh trưởng của cây gỗ lớn Lát hoa, từ đó kết hợp sản xuất nông lâm kết hợp hài hòa, nâng cao thu nhập trên diện tích đất rừng được giao quản lý.
Câu hỏi thường gặp
Mô hình trồng xen Lát hoa và Keo đem lại lợi thế lâm sinh cụ thể nào?
Mô hình trồng xen theo tỷ lệ 1:1 với mật độ ban đầu 1.660 cây/ha giúp cây Keo phát huy vai trò phù trợ, che bóng chắn gió và cố định đạm cải tạo đất trong 5-6 năm đầu. Khi Keo được tỉa thưa toàn bộ, Lát hoa hấp thu tối đa ánh sáng để tăng trưởng đường kính đạt 1,19 - 1,23 cm/năm.
Dự án 661 đóng góp như thế nào vào tỷ lệ che phủ rừng tại Thạch Thành?
Dự án đã nâng độ che phủ rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành từ 62,8% năm 1998 lên 74,8% năm 2010. Thành quả này đóng vai trò then chốt giúp huyện Thạch Thành đạt diện tích rừng 25.307,86 ha và nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn huyện lên mức 45,25%.
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt hiện trạng rừng giữa Ban Quản lý và xã Thạch Tượng là gì?
Ban Quản lý giữ vững 305,0 ha rừng Lát hoa nhờ quản lý tập trung và kinh phí khoán bảo vệ ổn định. Trong khi đó, 306,2 ha bàn giao cho xã Thạch Tượng bị người dân chuyển sang trồng Keo chu kỳ ngắn nhằm đáp ứng áp lực quay vòng vốn sinh kế và tiêu thụ nguyên liệu giấy nhanh chóng.
Trữ lượng gỗ Lát hoa tích lũy tại các cấp tuổi 12, 13 và 14 đạt mức bao nhiêu?
Trữ lượng rừng Lát hoa tăng trưởng ấn tượng theo thời gian: rừng 12 tuổi (trồng năm 2005) đạt 83,76 m3/ha; rừng 13 tuổi (trồng năm 2004) đạt 103,41 m3/ha; và rừng 14 tuổi (trồng năm 2003) đạt 135,08 m3/ha với mức tăng trưởng trữ lượng bình quân cao nhất 9,65 m3/ha/năm.
Triển vọng phát triển kinh tế và môi trường của rừng Lát hoa Thạch Thành trong tương lai ra sao?
Với mức tăng trưởng chiều cao 1,24 - 1,40 m/năm và đường kính 1,22 cm/năm, sau 6-8 năm tới cây Lát hoa sẽ đạt đường kính 20 - 22 cm. Lâm phần sẽ cung cấp nguồn gỗ quý có giá trị kinh tế cao và củng cố vững chắc chức năng phòng hộ đầu nguồn vùng đệm Cúc Phương.
Kết luận
- Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng sinh trưởng của 305,0 ha rừng trồng Lát hoa phòng hộ thuộc Dự án 661 tại Thạch Thành.
- Tốc độ tăng trưởng đường kính Lát hoa đạt 1,19 - 1,23 cm/năm và chiều cao đạt 1,24 - 1,40 m/năm, chứng minh sự phù hợp cao với lập địa địa phương.
- Trữ lượng lâm phần ở tuổi 14 đạt 135,08 m3/ha, khẳng định tính ưu việt của mô hình kỹ thuật trồng xen Lát hoa kết hợp Keo mật độ 1.660 cây/ha.
- Khảo sát đã chỉ ra lỗ hổng chuyển đổi 547,9 ha rừng phòng hộ sang rừng Keo ngắn ngày do hạn chế trong cơ chế quản lý cấp xã và áp lực sinh kế.
- Đề tài đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, tài chính và thanh tra kiểm lâm đồng bộ thực thi trong giai đoạn 2018 - 2025.
Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng vào kho tàng lý luận đánh giá dự án lâm nghiệp sau kết thúc. Trong các bước tiếp theo đến năm 2030, các nghiên cứu cần tiếp tục đo đếm khả năng hấp thụ các-bon của rừng Lát hoa để đón đầu thị trường tín chỉ các-bon. Độc giả quan tâm hãy liên hệ hoặc tra cứu toàn văn tài liệu để khai thác chi tiết hệ thống số liệu điều tra lâm học chuyên sâu.