CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới Từ đầu thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về chim ăn thịt. Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu về khu hệ và các loài di cư của Allen (1936), Amadon (1948), Andrle (1968) và Evan (1973) [9]. Tại Châu Á, nửa cuối những năm 1990, một số công trình nghiên cứu về các loài chim ăn thịt được công bố gồm: Wen Ho Lin (1998), Ryuichi Yokoyama (1998), Shijirmaa Damdinsuren (1998), Nijiman (2000), Miranda (2000), Guruprasad (2002), Murate (2002), Ooi Beng Yean (2005).
Đây là các công trình tập trung đánh giá thành phần loài, số lượng quần thể, các loài quý hiếm bị đe doạ cũng như đặc tính di cư và các đề xuất bảo tồn [9]. công bố công trình nghiên cứu giới thiệu về sự hình thành và phát triển của các loài chim ăn thịt tại Cộng hoà Liên bang Nga và khu vực Viễn Đông khởi đầu từ thế kỷ XVI. Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng và xu hướng buôn bán chim ăn thịt (hợp pháp và bất hợp pháp) tại Nga trong thời gian 1992-2006 với một số loài chim ăn thịt thường xuyên bị buôn bán như Ưng lớn Accipiter gentilis, Cắt trung quốc Falco subbuteo, Cắt Cherrug Falco cherrug. Nghiên cứu cũng chỉ ra các thị trường nổi bật trong nhập khẩu và sử dụng chim ăn thịt từ Nga gồm Nhật Bản và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất.
Hoạt động xuất khẩu bất hợp pháp từ Nga đạt khoảng 500-600 cá thể chim ăn thịt/năm. Thực trạng này dẫn đến việc quần thể loài chim ăn thịt phân bố ở Nga bị suy giảm nghiêm trọng, có loài chỉ còn 5% so với thời gian cách đây 20 năm [37]. Cũng trong năm 2011, Yong Ding Li công bố nghiên cứu về hiện trạng các loài chim ăn thịt tại khu vực Đông Nam Á. Kết quả cho thấy khu vực Đông Nam Á có hơn 2.000 loài chim, chiếm 20% tổng số chim toàn thế giới.
Trong đó có 80 loài chim ăn thịt phân bố trong khu vực, chiếm 30% các loài chim ăn 7 thịt của thế giới. Nghiên cứu của Yong Ding Li cũng đã cho thấy thành phần các loài chim ăn thịt ở khu vực Đông Nam Á rất đa dạng. Nghiên cứu đã ghi nhận nhiều loài chim ăn thịt có kích thước lớn như Đại bàng đầu trọc Cinereous vulture, Kền kền măng gan Gyps bengalensis, Diều cá đầu xám Ichthyophaga ichthyaetus cũng như các chim ăn thịt có kích thước nhỏ như Cắt nhỏ hông trắng Polihierax insignis. Theo tác giả này, chim ăn thịt có khả năng bay nhanh hơn các loài di cư khác với phạm vi rộng hàng nghìn km, điển hình như loài Cắt lớn Falco peregrinus có thể đạt tốc độ 300km/h khi bay.
Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra các mối đe doạ đối với các loài chim ăn thịt tại Đông Nam Á gồm mất sinh cảnh sống và săn bắn [36]. Từ năm 2005, tổ chức Traffic tiến hành nghiên cứu về hoạt động buôn bán chim ở một số nước Đông Nam Á và Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung ở một số loài chim cảnh và nhóm chim mỏ sừng thường xuyên bị buôn bán ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, In-đô-nê-xi-a và Lào [32, 33, 34]. Hiện nay, quần thể tự nhiên của nhiều loài chim ăn thịt đã suy giảm đáng kể vì nhiều lý do khác nhau như: mất môi trường sống, săn bắt, nhiễm độc do thuốc trừ sâu, khai thác không bền vững, buôn bán bất hợp pháp và buôn bán thiếu kiểm soát.
Đặc biệt, buôn bán bất hợp pháp được coi là một mối đe dọa đáng kể đối với một số loài, với nguy cơ một số quần thể có thể bị tuyệt chủng. Theo nghiên cứu của Ban thư ký CITES năm 2009, giá một cá thể chim ăn thịt trưởng thành trên thị trường quốc tế dao động từ 200 – 300 đô la Mỹ và giá trên có thể thấp hơn giá thực tế khi giao dịch. Mặc dù đã có nhiều cơ sở nuôi nhốt chim ăn thịt được đăng ký CITES và được phép xuất khẩu tuy nhiên hoạt động buôn bán bất hợp pháp vẫn tăng lên đáng kể. Để tránh các chi phí tốn kém từ việc nuôi nhốt, nhiều đối tượng đã săn bắt chim ăn thịt từ tự nhiên và đưa vào các trại nuôi để từ đó xuất khẩu theo hình thức hợp pháp.
Số liệu thống kê từ cơ quan thực thi pháp luật các quốc gia thành viên CITES cho thấy nhiều vụ vận chuyển, buôn bán bất hợp pháp chim ăn thịt đã bị phát hiện và bắt giữ 8 ở Trung Quốc, Mông Cổ, Anh (đặc biệt là Sờ Cốt Len), Ca Na Đa và Liên bang Nga [20]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra 03 giai đoạn trong buôn bán bất hợp pháp chim ăn thịt gồm: (i) săn bắt chim ăn thịt trong tự nhiên; (ii) buôn bán bất hợp pháp chim ăn thịt xuyên biên giới và (iii) buôn bán giữa các nhà cung cấp với khách hàng [20]. Như vậy có thể thấy việc điều tra, nghiên cứu các loài chim ăn thịt, đặc biệt là tình trạng buôn bán xuyên biên giới còn nhiều hạn chế, với quy mô nhỏ, đa số các nghiên cứu mới chỉ tập chung vào phân loại học và một số đặc tính di cư, sinh sản. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, trước năm 1998, các công trình nghiên cứu về khu hệ chim của các tác giả Võ Quý (1975, 1981), Võ Quý, Nguyễn Cử (1995) ghi nhận một số loài chim ăn thịt phân bố tại các vùng miền khác nhau [17, 18, 19].
Năm 2000, tại Hội nghị lần thứ 2 của Mạng lưới Nghiên cứu và bảo tồn các loài chim ăn thịt Châu Á (ARRCN), Nguyễn Cử đã giới thiệu hiện trạng bảo tồn của các loài chim ăn thịt phân bố trong vùng đất thấp Trung Bộ. Tác giả đã đánh giá, ghi nhận 42 loài chim ăn thịt trong vòng 10 năm từ 1990–2000 tại vùng đất thấp Trung Bộ. Trong đó, có 13 loài chim ăn thịt ban đêm và 29 loài chim ăn thịt ban ngày. Tác giả đã phân tích, xác định trong 42 loài ghi nhận có 25 loài định cư, 12 loài di cư và 05 loài cả định cư lẫn di cư [29].
Cũng trong năm 2000, Nguyễn Cử cũng đã công bố trên tạp chí Chim ăn thịt Châu Á về “Kết quả điều tra các loài chim ăn thịt tại vùng đồng bằng Sông Mê Kông, Việt Nam năm 1999”. Tổng số 16 loài chim ăn thịt đã được ghi nhận trong 12 tỉnh tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có 3 loài chim ăn thịt ban đêm và 13 loài chim ăn thịt ban ngày [30]. 9 Năm 2002, Lê Mạnh Hùng công bố trên tạp chí Chim ăn thịt châu Á số 3 công trình “Kết quả ghi nhận các loài chim ăn thịt trong một số đợt khảo sát chim tại Việt Nam trong hai năm 2001, 2002”. Tác giả đã công bố kết quả điều tra các loài chim ăn thịt tại ba khu vực gồm khu BTTN Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, khu vực rừng thuộc huyện Lệ Thuỷ và Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và VQG Lò Gò Xa Mát, tỉnh Tây Ninh [26].
Năm 2005, Lê Mạnh Hùng và Nguyễn Cử công bố tại Hội thảo Quốc gia về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ nhất, công trình “Kết quả nghiên cứu hiện trạng phân bố, số lượng các loài Chim ăn thịt ban ngày và Hồng hoàng tại VQG Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai”. Các tác giả đã ghi nhận 15 loài chim ăn thịt ban ngày tại VQG Cát Tiên, trong đó có 2 loài ghi nhận trong Danh lục Đỏ IUCN (2005) với cấp độ Sắp bị đe doạ (NT) là Diều cá đầu xám và Diều cá bé. Đặc biệt tác giả đã đánh giá rất cụ thể về hiện trạng phân bố của từng loài trong VQG [8]. Năm 2005, Lê Mạnh Hùng và Nguyễn Cử công bố trong Kỷ yếu hội nghị lần thứ tư của ARRCN tại Taiping, Ma Lai Xi A công trình “Điều tra hiện trạng các loài chim ăn thịt di cư tại một số khu vực phía bắc Việt Nam vào mùa di cư mùa thu 2004 và mùa xuân 2005”.
Tác giả đã tiến hành khảo sát tại 4 VQG gồm Tam Đảo, Cúc Phương, Xuân Thuỷ và Vũ Quang. Kết quả ghi nhận được 1.769 cá thể thuộc 22 loài tại Tam Đảo, 153 cá thể thuộc 5 loài tại Xuân Thuỷ, 29 cá thể thuộc 3 loài tại Cúc Phương và 31 cá thể thuộc 4 loài tại Vũ Quang [27]. Năm 2007, Lê Mạnh Hùng cùng cộng sự công bố trong Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 2, công trình “Kết quả bước đầu nghiên cứu các loài chim ăn thịt di cư tại VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”. Nhóm tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu nhóm loài chim ăn thịt di cư trong hai năm 2005 và 2006 tại VQG Tam Đảo với 2.169 cá thể thuộc 20 loài đã được ghi nhận.
Đặc biệt công trình đã lần đầu tiên ghi nhận sự di cư của loài Diều hoa Jerdon Aviceda jerdoni tại Việt Nam [28]. 10 Năm 2011, trong luận án Tiến sĩ, Lê Mạnh Hùng đã công bố tại Việt Nam hiện ghi nhận 52 loài chim ăn thịt ban ngày thuộc 21 giống, 3 họ và 1 bộ. Trong đó có 23 loài định cư, 17 loài di cư, 6 loài vừa định cư vừa di cư, 5 loài lang thang và 1 loài vừa lang thang vừa di cư. Trong số 52 loài trên có 9 loài bị đe doạ toàn cầu được liệt kê trong Danh lục Đỏ của IUCN (2009), trong đó có 03 loài bị đe doạ ở mức rất nguy cấp (CR) gồm Kền kền măng gan Gyps bengalensis, Ó tai Aegypius calvus, Kền kền ấn độ Gyps indicus, 02 loài sẽ bị đe doạ (VU) gồm Đại bàng đen Aquila clanga, Đại bàng đầu nâu A.
heliaca và 04 loài sắp bị đe doạ (NT) gồm Đại bàng đầu trọc, Diều cá bé, Diều cá đầu xám và Cắt nhỏ hông trắng [9]. Có thể nói tất cả các công bố trước đây về chim ăn thịt tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khu hệ ghi nhận thành phần loài cũng như đánh giá các mối đe doạ với các loài có giá trị bảo tồn. Hiện chưa có công bố chính thức nào về hiện trạng buôn bán về các loài chim ăn thịt tại Việt Nam. Một số quy định của pháp luật liên quan đến chim ăn thịt Hiện tại, đã có một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như Công ước Quốc tế liên quan đến công tác bảo tồn các loài chim ăn thịt: 1.