MỞ ĐẦU Đầm phá (lagoon) tự nhiên là một loại hình thuỷ vực rất đặc sắc của khu vực vùng triều ven biển. Ở Việt Nam, hiện có 12 đầm phá ven biển điển hình phân bố ở ven bờ biển Trung Bộ từ Thừa Thiên - Huế đến Ninh Thuận; với tổng diện tích là 447,8 km2. Trong hệ thống 12 đầm phá này, lớn nhất là phá Tam Giang – Cầu Hai rộng tới 216 km2; nhỏ nhất là đầm Nƣớc Mặn 2,8 km2 [15]. Giá trị từ hệ thống đầm phá này mang lại cho con ngƣời là vô cùng to lớn: Cung cấp thực phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế bao gồm nông nghiệp, ngƣ nghiệp và lâm nghiệp; là nguồn gen bao gồm nhiều loài nƣớc lợ và nƣớc mặn thích nghi với điều kiện tự nhiên của đầm; vai trò trong điều hòa nguồn nƣớc ngầm, là bể chứa trong mùa mƣa và là nguồn cung cấp nƣớc cho mùa khô, vai trò trong sản xuất sinh khối và lƣu trữ dinh dƣỡng, vai trò trong loại hình kinh tế du lịch cho cả vùng.
Đầm Nại – một tặng phẩm thiên nhiên đã ban cho vùng đất ―thiếu mưa, thừa nắng‖ Ninh Thuận. Với diện tích trung bình gần 700 ha, đầm Nại là nơi có hệ sinh thái vô cùng đa dạng và phong phú; mang những nét đặc trƣng cho đầm vùng khí hậu nhiệt đới khô hạn vùng ven biển. Đầm Nại còn là khu vực có nguồn lợi thủy sản khá phong phú, đƣợc ví nhƣ “nồi cơm chung” của ngƣời dân năm xã ven đầm; đóng vai trò điều hòa nƣớc cho toàn khu vực; thêm vào đó, đầm Nại còn từng là “lá phổi” làm sạch môi trƣờng sinh sống của cƣ dân quanh đầm. Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, khi nghề nuôi tôm công nghiệp đƣợc đầu tƣ, thêm vào đó là nhiều hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời cũng quan tâm và phát triển; đã và đang có những ảnh hƣởng không hề nhẹ tới hệ sinh thái và cảnh quan của đầm: rừng ngập mặn tự nhiên bị con ngƣời tàn phá để lấy đất nuôi tôm; phục vụ cho việc canh tác sản xuất nông nghiệp; dẫn đến mặt đầm bị “thuỷ mạc hoá”; sự phân bố của một số HST bị thay đổi.
Hệ quả là giá trị đa dạng sinh học trong đầm ngày càng suy giảm, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, bãi đẻ của một số loài cá, động vật thủy sinh bị thu hẹp và dần mất đi. Do có nhiều vai trò quan trọng nhƣ vậy nên hệ 12 đầm phá ven biển miền Trung đƣợc rất nhiều nhà khoa học quan tâm. Riêng với khu đầm phá Tam Giang – 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cầu Hai có khoảng hơn 40 công trình khảo sát và nghiên cứu đã đƣợc công bố, các đầm phá nhƣ đầm Thị Nại, đầm Ô Loan, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm ở nhiều mặt khác nhau: từ địa chất, khí hậu, …đến các hệ động, thực vật [15]. Tuy nhiên, theo thống kê mới đây nhất các công trình nghiên cứu về các đầm phá ven biển miền Trung thì vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào về sự thay đổi về diện tích một số hệ sinh thái tại khu vực Đầm Nại từ những năm sau chiến tranh đến nay.
Hơn thế nữa, những nghiên cứu khoa học về đầm Nại hiện nay chƣa có nhiều; các tác giả chỉ tập trung vào việc đánh giá những ảnh hƣởng từ hoạt động nuôi trồng thủy sản đến chất lƣợng nƣớc và sự đa dạng sinh học của các hệ sinh thái khu vực đầm Nại, và bƣớc đầu chƣa có cơ sở dữ liệu giúp các nhà quản lý có những biện pháp thích hợp cho công tác quy hoạch phát triển định hƣớng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Với thực tế đó, đề tài: “Đánh giá biến động một số hệ sinh thái tại khu vực Đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững” đƣợc thực hiện với những mục tiêu sau : 1. Đánh giá đƣợc những biến động về phân bố không gian của các hệ sinh thái tiêu biểu khu vực đầm Nại trong giai đoạn 1975 – 2014. Đánh giá đƣợc chất lƣợng môi trƣờng nƣớc thông qua việc theo dõi sự thay đổi một số yếu tố môi trƣờng nƣớc đặc trƣng tại một số sinh cảnh khu vực đầm Nại theo mùa trong giai đoạn 2013 – 2014.
Cung cấp các dữ liệu về mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, từ đó đề xuất một số biện pháp phục hồi, định hƣớng phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẦM PHÁ VEN BIỂN VIỆT NAM Đầm phá ven biển là một loại hình hệ sinh thái đất ngập nƣớc tiêu biểu thuộc khu vực ven bờ biển; mang những nét đặc sắc về mặt địa chất, sinh học sinh thái, và những tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên. Đây là một dạng thủy vực của đới ven bờ, đƣợc tách khỏi biển nhờ kiểu tích tụ bờ cát chắn phía ngoài, ôm lấy một vực nƣớc nông phía trong.
Đầm phá ven biển Việt Nam chiếm khoảng 21% chiều dài đƣờng bờ biển, tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung, phân bố từ vĩ độ 16oB tới 11oB, từ Thừa Thiên Huế tới Bình Thuận. Các đầm phá tiêu biểu là Tam Giang - Cầu Hai, Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Trƣờng Giang, An Khê, Nƣớc Mặn (Quảng Ngãi), Trà Ô, Nƣớc Ngọt, Thị Nại (Bình Định), Cù Mông, Ô Loan (Phú Yên), Thủy Triều (Khánh Hòa), Nại (Bình Thuận) [8]. Lịch sử phát triển cho thấy, đầm phá ven biển đƣợc hình thành ở những vùng bờ có động lực mạnh, đặc biệt là động lực sóng, với các dòng bồi tích dọc bờ, thủy triều và sóng gây nên hiện tƣợng dịch chuyển vật chất trong khu vực, trong quan hệ tƣơng tác giữa lục địa và biển. Về hình thái chung, đầm phá thƣờng có dạng một thủy vực kéo dài dọc bờ, ngăn cách với biển bởi hệ cồn cát kéo dài, một mặt thu nhận lƣợng nƣớc sông từ phía lục địa đổ vào qua các cửa sông, mặt khác thông với khối nƣớc biển qua một hay nhiều cửa về phía biển [15].
Do vị trí của mỗi đầm phá ở từng khu vực có điều kiện địa chất, thủy văn, chế độ động lực phát triển khác nhau đã tạo nên các kiểu đầm phá khác nhau với độ lớn, hình thái cấu trúc, xu thế phát triển tiến hóa khác nhau, dẫn đến các điều kiện sinh thái – sinh học khác nhau. Việc phân chia các kiểu đầm phá dựa trên tính chất chung của từng thủy vực đầm phá, trong đó đặc điểm chủ yếu là chế độ thủy văn của đầm phá phụ thuộc vào khả năng trao đổi nƣớc giữa đầm phá và biển; vào cân bằng nƣớc diễn ra trong đầm phá giữa khối nƣớc sông và khối nƣớc biển, liên quan tới vị trí độ lớn của cửa mở đầm phá ra biển và các cửa sông đổ vào đầm phá. Dƣới góc độ loại hình học, đầm phá có đặc tính của hồ chứa nƣớc ven bờ. Tuy nhiên, 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giống nhƣ vùng cửa sông, do đặc tính pha trộn giữa khối nƣớc ngọt và nƣớc mặn nên khu hệ thuỷ sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nƣớc ngọt, nƣớc lợ và nƣớc mặn.
Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt. Việc phân loại các đầm phá ở Việt Nam một cách có hệ thống chỉ mới đƣợc thực hiện trong những nghiên cứu gần đây [35]. Kết hợp giữa các tiêu chuẩn lý luận và thực tiễn, vận dụng các phƣơng pháp đã đƣợc sử dụng trên thế giới (Nichols và Allen, 1981), chú trọng đặc điểm, trạng thái cửa mở và chế độ thủy văn đầm phá, bƣớc đầu có thể phân chia các đầm phá ven biển miền Trung thành các kiểu loại sau (Bảng 1.1): Kiểu I: Đầm phá gần kín, cửa mở rộng, chế độ nƣớc lợ - lợ nhạt, độ mặn thƣờng thấp, dƣới 30‰. Thuộc kiểu này có các đầm: Tam Giang – Cầu Hai, Trƣờng Giang, Thị Nại, Cù Mông, Thủy Triều, Nại.
Kiểu II: Đầm phá kín từng phần, cửa mở rất hẹp, chế độ nƣớc mặn - lợ, độ mặn có thể lên tới trên 35‰. Thuộc kiểu loại này có các đầm: Lăng Cô, Ô Loan, Nƣớc Mặn, Nƣớc Ngọt. Kiểu III: Đầm phá đóng kín gồm các đầm An Khê và Trà Ổ. Riêng đầm Trà Ô cửa rất hẹp, hoặc gần nhƣ bị đóng hoàn toàn, độ mặn ở mức nhạt lợ, thƣờng dƣới 5‰.
Vào mùa mƣa lũ, ngƣời dân sống quanh đầm phá thƣờng phải đào để khơi thông cửa tạo điều kiện cho việc thoát lũ đƣợc dễ dàng. Việc phân chia nhƣ trên chỉ mang ý nghĩa tƣơng đối, trên thực tế có thể thay đổi theo từng thời gian, trong quá trình biến động phát triển tiến hóa của thủy vực [29,30]. Với các đặc điểm chế độ thủy văn – trạng thái cửa mở liên quan đến chế độ nƣớc ngọt - lợ - mặn đã tạo cho mỗi đầm phá một khu hệ sinh thái riêng biệt [5]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vị trí phân loại đầm phá miền Trung Việt Nam trong hệ thống phân loại đầm phá ven bờ đại dƣơng của thế giới Phân loại chung Phân loại ở Việt Nam đầm phá ven biển thế giới Gần kín Kín từng phần Đóng kín Kiểu đầm phá cửa sông Tam Giang - Cầu Hai, Kiểu đầm phá Trƣờng Giang, Thị hở Nại, Cù Mông, Thủy Triều và Nại Kiểu đầm phá Lăng Cô, Nƣớc Ngọt, kín từng phần Nƣớc Mặn, Ô Loan Kiểu đầm phá An Khê, đóng kín Trà Ô (Nguồn: Nguyễn Hữu Cử, 1996 và 1999) [5,6,15,18,41,44,46] 1. ĐẶC ĐIỂM KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC ĐẦM NẠI 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý, địa hình Đầm Nại thuộc địa phận huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Bắc Giáp Tân Hải (thôn Gò Đền), Tây Bắc giáp Hộ Hải (thôn Lƣơng Cách, Hộ Diêm), Đông và Đông Bắc giáp Phƣơng Hải (thôn Phƣơng Cựu), Đông Nam giáp Tri Hải (thôn Tri Thủy), Nam và Tây Nam giáp Khánh Hải (thôn Dƣ Khánh). Đầm Nại là một lòng chảo nông dạng lục giác không đều ít eo ngách. Nối với biển qua lạch Ninh Chữ dài 2,2km, rộng 150 – 300m, hai đầu lạch rộng khoảng 150m, giữa lạch rộng nhất khoảng 550m, sâu 3-5m, chỗ hẹp nhất 140m tại cầu Tri Thủy [5]. Diện tích lòng đầm Nại khoảng 700ha, vùng đồng bằng ven đầm bị chi phối triều trên 400ha.
Bao quanh đầm Nại là ruộng lúa, các ngọn núi Cà Đú, núi Đình, Hòn Thiêng, các ruộng muối và các đìa nuôi tôm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bản đồ vị trí địa lý Đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận (Ảnh: Đề tài KC08. Đặc điểm khí hậu Đầm Nại thuộc khu vực mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa.