phần mở đầu, kết luận, Phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 35 trang - Chƣơng 2: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 5 trang - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38 trang 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm về nông thôn Hiện nay, trên thế giới các Nhà khoa học nghiên cứu về nông thôn và có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên nhiều các tiêu chí nhƣ về mật độ dân số, phát triển sản xuất hàng hóa và nghề nghiệp. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trƣờng so với đô thị là thấp hơn. Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cƣ làm nông nghiệp là chủ yếu,nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu và nguồn sinh kế chính của cƣ dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Nếu so sánh nông thôn và thành thị bằng một trong những chỉ tiêu này thì chỉ có thể nói lên một khía cạnh nào đó của vùng nông thôn. Đó mới chỉ là cách nhìn đơn lẻ chƣa toàn diện, chƣa thể hiện hết đƣợc bản chất của vùng nông thôn.
Vì vậy, để có cách nhìn tổng quát về nông thôn, chúng ta tổng hợp các chỉ tiêu này và rút ra đƣợc một khái niệm chung nhất về vùng nông thôn nhƣ sau: Nông thôn là vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, là nơi có mật độ dân cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp [14]. Khái niệm nông thôn đƣợc thống nhất với quy định tại theo Thông tƣ số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [2], cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Khái niệm nông thôn mới Trong Quyết định Số 800/QĐ-TTg [20] đƣa ra mục tiêu chung về xây dựng mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bƣớc hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi 3 trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; an ninh trật tự đƣợc giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao; theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa”. Nhƣ vậy nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
Nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Khái niệm phát triển nông thôn Phát triển nông thôn cũng chính là phát triển nông nghiệp.
Ở thập niên 80 của thế kỷ XX Ngân hàng Thế giới (WB) làm mới định nghĩa phát triển nông thôn: “là một chiến lƣợc đƣợc hoạch định để cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của ngƣời nghèo ở nông thôn”. Phát triển nông thôn phải nhằm cải thiện mức sống của đa số ngƣời nghèo ở nông thôn, làm cho họ có khả năng tự phát triển và cần có sự huy động và phân bố các nguồn lực và sự phân phối công bằng đầu ra trong một khuôn khổ chính sách phù hợp ở các mức độ quốc gia và vùng, bao gồm cả việc nâng cấp thể chế và kỹ năng. Theo đó, vai trò của nhà nƣớc trong phát triển nông thôn là thúc đẩy phát triển các thể chế, cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cũng nhƣ cung cấp kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội, thông tin, liên lạc, hỗ trợ hình thành tổ chức nông dân, cung cấp dịch vụ khuyến nông và trợ cấp tín dụng, vật tƣ đầu vào. Phát triển nông thôn là một quá trình có sự tham gia, nhấn mạnh giao quyền cho cƣ dân nông thôn để họ có thể kiểm soát tiến trình phát triển theo những ƣu tiên mà họ lựa chọn.
Phát triển nông thôn lại gắn với mục tiêu giảm nghèo của các quốc gia dựa trên tiếp cận lý thuyết sinh kế bền vững. Giảm nghèo trở thành vấn đề trung tâm của át triển nông thôn. Các chính phủ hiện nay đang có xu hƣớng chuyển từ tiếp cận nghèo đơn chiều sang nghèo đa chiều. Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này có thể hiều nhƣ sau: “ Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trƣờn nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân nông thôn.
Quá trình 4 này trƣớc hết là do chính ngƣời dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nƣớc và các tổ chức khác”. theo Mai Thanh Cúc và cs (2005) [19]. Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng đời sống của ngƣời dân địa phƣơng, thể hiện ở ba mục tiêu: Một là, cải thiện năng lực cạnh tranh của nông nghiệp. Hai là, cải thiện môi trƣờng và cảnh quan nông thôn.
Ba là, cải thiện chất lƣợng đời sống nông thôn và khuyến khích đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, là “cải thiện các điều kiện của cộng đồng nông thôn một cách tổng thể, bao gồm kinh tế và chất lƣợng cuộc sống ở các phƣơng diện, nhƣ môi trƣờng, sức khỏe, kết cấu hạ tầng và nhà ở”. Mô hình phát triển nông thôn bao gồm ba phƣơng diện kinh tế, xã hội và chính trị, tạo ra năng lực và cơ hội để ngƣời dân nông thôn tham gia và hƣởng lợi từ quá trình phát triển, tạo ra năng lực và cơ hội để tham gia quá trình chính trị và phát triển xã hội toàn diện. Phát triển nông thôn chính là quá trình thu hút mọi ngƣời dân tham gia vào các chƣơng trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lƣợng cuộc sống của các cƣ dân nông thôn, thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhƣng vẫn bảo tồn đƣợc những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ. Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trƣờng.
Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải đƣợc đặt trong khuôn khổ của một chiến lƣợc, chƣơng trình phát triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nƣớc (Phạm Vân Đình và cs, 1997) [15]. Quan điểm về xây dựng nông thôn mới. Yêu cầu xây dựng nông thôn mới Theo Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2008) [16] Yêu cầu xây dựng nông thôn mới: Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã.
Làng - xã thực sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nƣớc không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của ngƣời dân thông qua hƣơng ƣớc, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nƣớc). Quản lý của Nhà nƣớc và tự quản của nông dân đƣợc kết hợp hài hoà; các giá trị truyền thống làng xã đƣợc phát huy tối đa, 5 tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội,…nhằm hình thành môi trƣờng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trƣờng hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vƣợng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời. Trƣớc hết, cần tạo cho ngƣời dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch, để họ “ly nông bất ly hƣơng”.
Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dƣỡng các nguồn lực, đạt tăng trƣởng kinh tế cao và bền vững; môi trƣờng sinh thái đƣợc giữ gìn; tiềm năng du lịch đƣợc khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp đƣợc khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học.; cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phƣơng, vùng, cả nƣớc và quốc tế. Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất.Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nƣớc, tƣ nhân…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng. Ngƣời nông dân thực sự “đƣợc tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phƣơng án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hƣơng theo đúng chủ trƣơng đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.