Chương I - Luật DL Việt Nam năm 2005). Thực tế nhiều khu DL có ưu thế nổi bật về cả tự nhiên và nhân văn. * Theo Luật DL Việt Nam cũng như ý kiến của các nhà khoa học DL các nước cho thấy KDL có một số đặc điểm sau: - KDL phải có tài nguyên đủ sức hấp dẫn khách DL, lấy hoạt động DL làm chức năng. - Thu nhập từ hoạt động DL phải chiếm tỷ trọng tương đối lớn và được xếp vị trí ưu tiên số một so với các ngành khác.
- Có kết cấu hạ tầng, các dịch vụ DL đáp ứng nhu cầu DL hoặc mua sắm của du khách. * KDL được phân loại theo nhiều cách: - Theo thực trạng phát triển có KDL đã hình thành và KDL tiềm năng. - Theo yếu tố địa lí có KDL ven biển, KDL vùng núi, KDL rừng, KDL ven hồ, KDL suối khoáng, KDL đồng bằng… - Theo hình thức hoạt động có KDL tham quan, KDL nghỉ dưỡng, KDL săn bắn, KDL thể thao. - Theo nguồn gốc hình thành có KDL tự nhiên và KDL văn hóa.
* KDL có đủ điều kiện sau đây được công nhận là KDL Quốc Gia: - Có tài nguyên DL đặc biết hấp dẫn với ưu thế cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút lượng khách cao. - Có diện tích tối thiểu 1000 ha, trong đó diện tích cần thiết kế để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ DL phù hợp với cảnh quan, môi trường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn - 11 - của KDL; trường hợp đặc biệt mà diện tích nhỏ hơn thì cơ quan quản lý Nhà nước về DL ở Trung Ương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. - Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật DL đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách DL một năm, trong đó có cơ sở lưu trú và dịch vụ DL cần thiết phù hợp với đặc điểm của KDL. Sự cần thiết phải đánh giá giá trị giải trí khu du lịch * Sự ra đời của khái niệm phát triển du lịch bền vững Ngày nay, cùng với việc phát triển DL là những tác động tới môi trường tự nhiên xung quanh.
Sự tác động này thường chỉ đem lại cho quốc gia và doanh nghiệp một chút lợi ích trước mắt, còn về lâu dài đây chính là mối nguy hại đe dọa đến sự sống còn của môi trường. Từ những năm 1990 ý nghĩa của việc phát triển DL môi trường, một xu thế phát triển lâu dài đã được biết đến. Khái niệm phát triển DL bền vững (PTDLBV) được hiểu như sau : PTDLBV là quá trình điều hành quản lý các hoạt động DL với mục đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn khách DL tới các vùng và các quốc gia DL. Quá trình quản lý này luôn hướng tới việc đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.
Tức là phát triển DL mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của DL cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào. DL bền vững có ba hợp phần chính, đôi khi còn được ví như “ba chân kiềng” (Theo International Ecotourism Society, 2004). (i) Thân thiện môi trường: DL bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên. Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm…) và các cố gắng có lợi cho môi trường; (ii) Gần gũi về xã hội và văn hóa: DL không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hóa của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện.
Thay vào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn - 12 - đó thì nó lại tôn trọng văn hóa và truyền thống địa phương. Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tuor và quản lý chính quyền trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ; (iii) Có kinh tế: DL góp phần về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt. DL bền vững không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn. * Xác định giá trị giải trí của KDL nhằm hướng tới PTDLBV Xác định giá trị giải trí của KDL là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm lượng giá giá trị bằng tiền của tài sản môi trường là các KDL làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý KDL theo hướng DL bền vững.
Trên thế giới việc định giá tài sản môi trường đã được thực hiện từ lâu ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên ở Việt Nam việc đánh giá giá trị giải trí của tài sản môi trường là công việc mới mẻ, các công trình có thể kể ra như : “Đánh giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của vườn quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn” luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Quang Hồng (2006) ; “Sử dụng phương pháp chi phí du hành phân tích giá trị giải trí của cụm đảo San hô Hòn Mun, tỉnh Khánh Hòa” của tác giả Trần Võ Hùng và Phạm Khánh Nam; “Ước lượng giá trị của việc cải thiện chất lượng môi trường tại cụm đảo Hòn Mun: nhìn từ góc độ giá trị giải trí” của tác giả Phạm Hồng Mạnh và Trương Ngọc Phong - trường Đại học Nha Trang…. Việc xác định được giá trị giải trí của tài sản môi trường là KDL nếu được thực hiện sẽ có ý nghĩa như sau: Thứ nhất: Nhà nước và các doanh nghiệp đang thực hiện đầu tư rất lớn bằng ngân sách Nhà nước cho các hoạt động DL dựa trên các cảnh quan tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn - 13 - nhiên sẵn có, song lợi ích thu được mới chỉ được nhìn nhận định tính. Đánh giá giá trị giải trí của KDL sẽ giúp nhìn nhận lợi ích từ việc đầu tư một cách đầy đủ và cụ thể hơn.
Thứ hai: Đánh giá giá trị giải trí của KDL giúp tránh gây thiệt hại tới vốn tài nguyên thiên nhiên, điều này là rất quan trọng, chẳng hạn như: nguồn tài nguyên đất, nước, không khí và tính đa dạng sinh học có tại KDL… và đưa ra được cảnh báo những dự án tác động không tốt tới KDL. Thứ ba: Trong một số trường hợp việc đánh giá giá trị giải trí bằng tiền của tài sản môi trường là cơ sở để Nhà nước cân nhắc khi đưa ra một quyết định ảnh hưởng đến vốn tự nhiên; là cơ sở để Nhà nước xác định mức đền bù hoặc bồi thường khi cá nhân, tổ chức gây tổn hại đến tài sản tự nhiên. Thứ tư: Khi tài sản môi trường được đánh giá tức là giá trị của chúng được thừa nhận gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng từ đó nâng cao nhận thức về môi trường của cộng đồng và đưa ra chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định kinh tế của KDL theo hướng DL bền vững. Tổng giá trị kinh tế của một khu du lịch * Tổng giá trị kinh tế Mặc dù có nhiều cách phân loại tổng giá trị kinh tế của tài sản môi trường, nhưng phương pháp luận đặt cơ sở cho việc giải thích về sự hình thành của giá trị môi trường là trên cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người - người định ra giá trị và khách thể - vật thể được đánh giá.
KDL là một tài sản môi trường nên tổng giá trị kinh tế của KDL về nguyên tắc có thể xem xét thông qua các thành phần giá trị của một tài sản môi trường. Về tổng quan, để đo lường tổng giá trị kinh tế của một tài sản môi trường nói chung và của một KDL nói riêng, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Tổng giá trị kinh tế của môi trường được mô tả qua đẳng thức và sơ đồ sau: TEV = UV + NUV hay TEV = (DUV + IUV + OV) + (BV + EV) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www. Các thành phần của tổng giá trị kinh tế môi trường (TEV) Tổng giá trị kinh tế (TEV) Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng (UV) (NUV) Giá trị sử Giá trị sử Giá trị Giá trị Giá trị dụng dụng lựa chọn để lại tồn tại trực tiếp gián tiếp Lợi ích có Lợi ích từ Lợi ích trực Lợi ích từ Lợi ích từ thể sử dụng chức năng tiếp và gián mong muốn việc biết trực tiếp của môi tiếp của thế bảo tồn cho rằng các giá trường hệ tương lai thế hệ mai trị vẫn tồn sau tại -Thực phẩm -Chức năng -Đa dạng -Môi trường -Môi trường -Sinh khối sinh thái sinh học sống sống -Giải trí -Chống gió -Bảo tồn -Bảo tồn giá -Sự sống -Sức khỏe bão môi trường trị không của các sống thể đảo loài ngược Tính hữu hình giảm dần Nguồn : Giá trị của tài sản môi trường, Monasinghe,1992 Với : TEV - Tổng giá trị kinh tế ( Total Economic Value) UV - Giá trị sử dụng ( Use Values) NUV - Giá trị phi sử dụng ( Non - Use Value) DUV - Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value) IUV - Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value) OV - Giá trị lựa chọn - giá trị ý niệm ( Option Value) BV - Giá trị để lại (giá trị lưu truyền) (Bequest Value) EV - Giá trị tồn tại (Existence Value) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.
Giá trị sử dụng Là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài nguyên trên thực tế. Đôi khi cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân gắn liền với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp.