Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các hệ nhóm máu hồng cầu và kháng thể nhóm máu 1. Sơ lược lịch sử phát hiện các hệ nhóm máu hồng cầu Năm 1901, nhà bác học Karl Landsteiner (1868 – 1943) đã phát hiện ra nhóm máu hệ ABO, đây là hệ nhóm máu đầu tiên được phát hiện ở người và cũng là hệ nhóm máu đóng vai trò quan trọng nhất trong thực hành truyền máu. Việc phát hiện ra nhóm máu hệ ABO đã mở ra cho ngành truyền máu một trang mới.
Bệnh nhân đã được truyền máu an toàn và mang lại hiệu quả cao trong điều trị khi được thực hiện truyền máu hòa hợp nhóm máu hệ ABO [1], [35], [43]. Năm 1940, nhà bác học Karl Lansteiner và Wiener đã gây miễn dịch cho thỏ bằng hồng cầu khỉ Rhesus và đã thu được một kháng thể (KT) gây ngưng kết với khoảng 85% hồng cầu người da trắng ở New York, kháng nguyên (KN) tương ứng với KT này là KN D. Các KN khác của hệ Rh lần lượt được phát hiện, cho đến thời điểm hiện nay, người ta đã chứng minh hệ Rh là hệ nhóm máu phức tạp nhất với khoảng 55 KN khác nhau; tuy nhiên, các KN chính, quan trọng của hệ Rh vẫn là D, C, c, E, e. Hệ nhóm máu Rh là hệ nhóm máu có vai trò quan trọng thứ hai trong thực hành truyền máu.
Cũng nhờ phát hiện ra hệ nhóm máu hệ Rh mà người ta đã lý giải được cơ chế gây bệnh vàng da tan huyết ở trẻ sơ sinh là do có sự bất đồng nhóm máu hệ Rh giữa mẹ và thai. Truyền máu hòa hợp KN nhóm máu hệ Rh đã giúp cho người bệnh được truyền máu an toàn và hiệu quả hơn [1], [43]. Những năm sau đó, nhiều hệ nhóm máu khác như hệ Kell, Kidd, Duffy và MNS. đã lần lượt được phát hiện.
Đặc biệt, trong các năm trở lại đây, với sự phát triển rất mạnh mẽ của khoa học công nghệ, những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực sinh học phân tử và những hiểu biết mới, toàn diện về bộ gen của người. mà nhiều hệ nhóm máu mới đã được phát hiện như Forssman, Junior, Langereis, Vel và CD 59. Việc phát hiện ra các hệ nhóm máu trên đã tạo tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu để đề ra các biện pháp đảm bảo ATTM về mặt miễn dịch cho người bệnh [1], [43]. Đặc điểm một số nhóm máu quan trọng trong thực hành truyền máu Cho đến thời điểm năm 2016, đã có 36 hệ nhóm máu khác nhau đã được Hội Truyền máu Quốc tế (ISBT) chính thức công nhận [19], [43].
Hệ nhóm máu ABO Hệ nhóm máu ABO đã được nhà bác học Karl Landsteiner phát hiện vào năm 1901. Hệ nhóm máu ABO gồm có bốn nhóm chính là: nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O. Cho đến nay, người ta đã phát hiện được khá nhiều dưới nhóm của nhóm máu A như A1, A2, A3, Ax và nhóm B như B3, Bx, Bm… [1], [2]. Hệ nhóm máu ABO gồm có 4 KN là A; B; AB và A1, KN của hệ nhóm máu ABO thường xuất hiện sớm vào khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai.
Gen mã hóa tổng hợp các KN nhóm máu hệ ABO nằm trên nhiễm sắc thể số 9 [43]. KT của hệ nhóm máu ABO thường là KT tự nhiên, có bản chất là IgM, thích hợp hoạt động ở nhiệt độ 4°C đến 22°C, không qua được hàng rào nhau thai, không bao giờ có trong huyết thanh của người bình thường có KN tương ứng trên bề mặt hồng cầu. Chúng thường xuất hiện ngay sau sinh, tăng dần hiệu giá và đạt mức như người trưởng thành vào thời điểm 5 đến 10 tuổi. KT chống A và chống B cũng có thể là KT miễn dịch, có bản chất là IgG, thích hợp hoạt động ở 37°C, hình thành qua một quá trình đáp ứng miễn dịch do tiếp xúc với KN của hệ ABO, gặp trong bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con, truyền máu không hoà hợp hệ ABO.
Các KT miễn dịch này có thể đi qua hàng rào nhau thai, có khả năng kết hợp với bổ thể và gây tan máu trong lòng mạch [32], [35]. Hệ nhóm máu ABO là hệ nhóm máu có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hành truyền máu. Truyền máu không hoà hợp hệ ABO có thể gây tai biến. truyền máu nghiêm trọng do hồng cầu của người cho bị ngưng kết trực tiếp bởi các KT tương ứng có sẵn trong huyết thanh của người nhận và với sự có mặt của bổ thể sẽ gây tan máu cấp trong lòng mạch, nếu không xử trí, cấp cứu kịp thời tính mạng của người bệnh có thể bị đe dọa [35], [43].
Hệ nhóm máu Rh Nhóm máu hệ Rh được tác giả Karl Lansteiner và Wiener phát hiện đầu tiên vào năm 1940. Hệ nhóm máu Rh là hệ thống nhóm máu phức tạp nhất, cho đến nay đã có 55 KN khác nhau của hệ Rh được ISBT chính thức công nhận, tuy nhiên các KN chính, quan trọng nhất của hệ Rh là: D, C, c, E, e [43]. Các gen quy định tổng hợp các KN D, C, c, E, e của hệ Rh là RHD và RHCE, cả hai gen này đều nằm trên nhiễm sắc thể số 1. Các KN D, C, c, E, e của hệ Rh đều có khả năng gây miễn dịch tạo ra các KT tương ứng, tuy nhiên tính sinh miễn dịch của KN D là mạnh nhất [30], [32].
Các KT của hệ Rh phần lớn có bản chất là IgG, các KT này có thể lọt qua hàng rào nhau thai, gây bệnh vàng da tan huyết ở trẻ sơ sinh và gây tai biến truyền máu. KT tự nhiên của hệ Rh rất hiếm gặp, chỉ gặp một tỷ lệ thấp KT chống E, chống D loại IgM. KT của hệ Rh được sinh ra do một quá trình miễn dịch, gặp ở những người có nhóm máu Rh âm nhận máu Rh dương hoặc do bất đồng nhóm máu hệ Rh giữa mẹ và thai nhi. KT quan trọng nhất có ý nghĩa trên lâm sàng của hệ Rh là KT chống D, khoảng 50% người có nhóm máu Rh âm nhận máu Rh dương có thể hình thành KT chống D [46], [49].
Hệ Rh là một hệ nhóm máu có vai trò quan trọng trong thực hành truyền máu, chỉ đứng sau hệ nhóm máu ABO. Các KT của hệ Rh hầu hết đều là các KT có ý nghĩa lâm sàng và có thể gây phản ứng tan máu do truyền máu không hòa hợp. Các KT của hệ Rh cũng gây bệnh vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh khi giữa mẹ và thai nhi có sự bất đồng các KN của hệ Rh [30]. Các hệ nhóm máu có vai trò quan trọng khác Trong truyền máu còn quan tâm tới các hệ thống nhóm máu như: hệ nhóm Kell chỉ đứng sau hệ ABO và Rh do các KT miễn dịch chống K phản ứng rất mạnh với hồng cầu mang KN K và gây tan máu trong lòng mạch.
Các hệ thống nhóm máu khác cũng có vai trò quan trọng trong gây phản ứng miễn dịch mạnh và vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh như hệ MNS, Kidd, Duffy, P1PK. Ngoài ra, còn có một số hệ nhóm máu ít có ý nghĩa trên lâm sàng hoặc gây phản ứng tan máu và gây bệnh vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh, nhưng thường ở mức độ nhẹ như hệ Lutheran, hệ Lewis [1], [30], [41], [43]. Kháng thể nhóm máu 1. Tổng quát về kháng thể nhóm máu KT nhóm máu là những Globulin miễn dịch hiện diện trong huyết tương, thuộc nhóm IgM, IgG và hiếm gặp hơn là IgA.
Dựa vào nguồn gốc xuất hiện người ta chia KT nhóm máu thành hai loại là KT tự nhiên và KT miễn dịch. ❖ KT tự nhiên: Là những KT xuất hiện không thông qua quá trình miễn dịch rõ ràng. Đối với KT tự nhiên nhóm ABO như Anti A, Anti B được tạo thành từ rất sớm ngay từ thời kỳ bào thai. Bản chất KT tự nhiên thường là IgM, một số rất ít là IgG.
Điều kiện hoạt động tối ưu từ 4°C – 20°C, nhưng vẫn có thể hoạt động từ 0°C – 37°C ở môi trường NaCl 0,9%. IgM bị hủy ở 70°C trong 10 phút và bị phân hủy bởi 2 – mercaptoethanol , không đi qua nhau thai. Do những đặc điểm trên, KT tự nhiên có thể làm ngưng kết mạnh và hủy diệt hồng cầu mang KN tương ứng ở invitro cũng như invivo, hậu quả là gây nên tán huyết dữ dội trong lòng mạch và có thể dẫn đến tử vong. KT tự nhiên còn được chia thành 2 dạng: - KT tự nhiên bình thường: xuất hiện một cách đều đặn và thường xuyên theo một quy luật nhất định nào đó (Anti A, Anti B, Anti AB…).
- KT tự nhiên bất thường: xuất hiện không thường xuyên (Anti A1 ở người nhóm máu A2 và A2B…). ❖ KT miễn dịch: Tạo thành thông qua quá trình miễn dịch rõ ràng, chủ yếu là do truyền máu và mang thai bất thuận hợp. Bản chất KT miễn dịch thường là IgG, một số ít là IgM. Chúng không làm ngưng kết hồng cầu mang KN tương ứng trong môi trường NaCl 0,9%, nhiệt độ lạnh hoặc nhiệt độ phòng xét nghiệm (PXN).
Do đó còn được gọi là KT không làm ngưng kết. Trong điều kiện PXN chúng chỉ bám trên bề mặt hồng cầu tạo hiện tượng hồng cầu cảm ứng. KT IgG không bị hủy diệt ở 70°C trong 10 phút. Nhờ đặc tính này mà người ta có thể tách biệt KT IgG ra khỏi IgM trong hỗn hợp IgG và IgM có cùng đặc tính hay khác đặc tính [30], [41].
Theo nhận xét của tác giả Garraty (2012): Trong cùng một hệ nhóm máu thì có KT là có ý nghĩa lâm sàng, có KT không có ý nghĩa lâm sàng hoặc không có ý nghĩa lâm sàng khi chúng hoạt động ở 37°C (Bảng 1. Kháng thể của các hệ nhóm máu có ý nghĩa lâm sàng [30] Kháng thể nhóm máu hồng cầu Có ý nghĩa lâm Không có ý Có ý nghĩa lâm sàng sàng khi hoạt nghĩa lâm sàng động ở 37°C ABO MNS(S, s, Mia) Lewis Knop Rh Vel MNS (M, N) Bg Kell Forssman P1 Chido Duffy Junior Lutheran JMH Kidd Langereis. Các kháng thể hoạt động ở 37°C và có ý nghĩa lâm sàng [33] Thường có Không có hoặc rất hiếm gặp Thỉnh thoảng gặp Bg (HLA) Cartwright (Ytb) ABO Lbb Lutheran (Lub) Rh Ch/Rg Gerbich Kell Knops Dombrock Kidd JMH Lan Duffy CSa LW S, s, U Sda Jra Vel Xga 1.