CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về dịch vụ hệ sinh thái 1. Hệ sinh thái và các dịch vụ của chúng Trên trái đất có hàng triệu loài đang sinh sống.
Trong quá trình duy trì sự sống, các loài sinh vật tương tác lẫn nhau và tương tác với môi trường vật lý xung quanh chúng. Sự tương tác này hình thành nên một hệ thống động, luôn luôn biến đổi, được biết đến như là một HST. Hệ sinh thái là một phức hợp động của các quần thể động vật, thực vật và vi sinh vật, và các yếu tố môi trường đóng vai trò như một đơn vị chức năng. Con người là một bộ phận của HST.
Ở nhiều vùng, con người là sinh vật ưu thế. Nhưng dù có là loài ưu thế hay không, con người vẫn phụ thuộc vào các HST và phụ thuộc vào mạng lưới các mối tương tác giữa các sinh vật, trong các HST và giữa các HST giống như tất cả các loài khác. Trong quá trình duy trì và phát triển, con người cũng dựa vào các HST, tương tác với các thành phần của HST và tương tác lẫn nhau để mưu cầu cơm ăn, nước uống, áo mặc. Những sản phẩm như lúa gạo, tơ sợi, nước ngọt, thịt cá,.
đó chính là các lợi ích mà con người khai thác được từ HST. Khái niệm DVST được sử dụng lần đầu tiên từ cuối những năm 60 của thế kỉ XX. Sau đó có nhiều định nghĩa khác nhau về DVST. Các dịch vụ hệ sinh thái được định nghĩa là những lợi ích mà mọi người có được từ các hệ sinh thái [16].
DVST ở đây được dùng để chỉ cả các nguồn lợi hữu hình (như nước ngọt, lương thực, thực phẩm, nguyên vật liệu, gỗ, củi, các chất sinh hóa…) và các nguồn lợi vô hình (như các giá trị văn hóa, giải trí, giáo dục, khả năng điều tiết nước, không khí…), được con người sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ cuộc sống của mình. Các DVST được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Norberg (1999) dựa vào cấu trúc hệ sinh thái để phân chia DVST theo 3 loại là các dịch vụ liên quan đến sự duy trì mật độ dân số hay mật độ quần thể sinh vật, các dịch vụ liên quan 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đến các quá trình chuyển hóa và biến đổi của các vật chất đi vào hệ sinh thái và các dịch vụ liên quan đến các tổ chức sinh học. De Groot và cộng sự (2002) phân chia DVST theo 23 chức năng của HST thành 4 nhóm là chức năng điều tiết (duy trì các quá trình sinh thái thiết yếu và các hệ thống hỗ trợ sự sống); chức năng cung cấp nơi ở (cung cấp không gian sống phù hợp cho các loài động thực vật hoang dã); chức năng cung cấp các sản phẩm và các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chức năng cung cấp thông tin (tạo ra các cơ hội cho sự phát triển nhận thức).
MA 2005, dựa trên chức năng của hệ sinh thái, phân thành 4 nhóm DVST bao gồm dịch vụ cung cấp (cung cấp gỗ, củi, thức ăn, cây thuốc, ….); dịch vụ điều tiết (điều hòa không khí, điều tiết nguồn nước, ngăn chặn xói mòn đất và bảo vệ dinh dưỡng đất, phòng chống dịch bệnh…). TEEB (2010) phân chia các DVST thành 4 nhóm là cung cấp; điều tiết, văn hóa và nơi ở. Cách phân loại theo MA (2005) là cách phân loại phổ biến hiện nay, được nhiều nhà khoa học trên thế giới công nhận và sử dụng. Theo cách phân loại này, các dịch vụ sinh thái cụ thể là: (i) Dịch vụ cung cấp Đây là những sản phẩm có được từ các HST, bao gồm lương thực, tơ sợi, nhiên liệu, nguồn gen, các chất sinh hóa, dược phẩm và thuốc tự nhiên, các sản phẩm trang trí, nước ngọt.
(ii) Dịch vụ điều tiết Dịch vụ điều tiết là những nguồn lợi có được từ hoạt động điều tiết của các quá trình HST, bao gồm duy trì chất lượng không khí, điều tiết khí hậu, điều tiết nước, kiểm soát xói lở, lọc nước và xử lí chất thải, điều tiết dịch bệnh ở người, kiểm soát sinh vật, thụ phấn, phòng chống bão. (iii) Dịch vụ văn hóa Đây là những nguồn lợi phi vật chất mà con người có được từ các HST thông qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo, và trải 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nghiệm về mỹ học. Những dịch vụ này bao gồm sự đa dạng về văn hóa, các giá trị tinh thần và tôn giáo, hệ thống tri thức, các giá trị giáo dục, cảm hứng, các giá trị mỹ học, các mối quan hệ xã hội, cảm giác về nơi chốn, các giá trị di sản văn hóa, giải trí và du lịch sinh thái. (iv) Dịch vụ hỗ trợ Dịch vụ hỗ trợ là những dịch vụ cần thiết cho sự sinh ra của tất cả các DVST khác.
Dịch vụ hỗ trợ khác với các nhóm dịch vụ khác là những tác động của nó đối với con người hoặc là gián tiếp hoặc diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài và là các hỗ trợ cần thiết để tạo ra tất cả các dịch vụ sinh thái khác. Dịch vụ hỗ trợ bao gồm sản xuất sơ cấp, hình thành đất, chu trình dinh dưỡng, chu trình nước, sự cung cấp môi trường sống cho các loài sinh vật. Dịch vụ hệ sinh thái và đời sống con người Con người khai thác hệ sinh thái để phục vụ cho đời sống của mình, tạo nên sự thịnh vượng của con người. Các thành tố quyết định sự thịnh vượng của con người bao gồm an ninh, các vật chất cơ bản cho một cuộc sống tốt đẹp, sức khỏe và mối quan hệ xã hội tốt.
Các thành tố này được tạo nên từ các dịch vụ sinh thái (hình 1.1) và giúp cho con người có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Sự thịnh vượng của con người bao gồm: DỊCH VỤ SINH THÁI SỰ THỊNH VƯỢNG CỦA CON NGƯỜI HỖ TRỢ CUNG CẤP An toàn An toàn cá nhân Thức ăn An toàn trong tiếp cận tài nguyên Chu trình dinh Nước sạch An toàn trước các thảm họa dưỡng Gỗ, sợi Sự hình thành ……. đất Vật chất cơ bản cho cuộc sống tốt đẹp Sự tự do lựa Sản xuất sơ cấp ĐIỀU TIẾT Sinh kế tương xứng chọn và Điều tiết khí hậu Có đủ thực phẩm dinh dưỡng hành động Điều tiết lũ lụt Có nơi ở Lọc nước Tiếp cận các hàng hóa Cơ hội để ……. có thể đạt Sức khỏe được các Khỏe mạnh giá trị cá VĂN HÓA Tinh thần tốt nhân Thẩm mỹ Tiếp cận nguồn nước sạch Tinh thần Giáo dục Mối quan hệ xã hội tốt Giải trí Sự liên kết xã hội ……….
Tôn trọng lẫn nhau Khả năng giúp đỡ người khác 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Mối quan hệ giữa dịch vụ sinh thái và sự thịnh vượng của con người [16] 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn * Vật chất cơ bản cho một cuộc sống tốt đẹp: bao gồm sinh kế đảm bảo và xứng đáng; thu nhập và khả năng tiếp cận; luôn đủ lương thực, thực phẩm; nơi ở, quần áo và khả năng tiếp cận các hàng hóa, sản phẩm. * Sức khỏe: bao gồm sự khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, có một môi trường vật lý đảm bảo * Mối quan hệ xã hội tốt: bao gồm sự cố kết trong xã hội, sự tôn trọng lẫn nhau, mối quan hệ gia đình tốt, khả năng giúp đỡ người khác. * Sự an toàn: bao gồm sự tiếp cận an toàn tự nhiên và các loại tài nguyên, sự an toàn của cá nhân và tài sản, cuộc sống trong một môi trường đảm bảo, có thể dự đoán và kiểm soát an ninh từ các thảm họa tự nhiên và nhân tạo.
* Tự do lựa chọn và hành động: bao gồm việc kiểm soát thông qua những gì sẽ xảy ra và có thể đạt được. Trong hệ sinh thái, con người là một trong những thành phần sinh học và tương tác với các thành phần khác để tạo ra lợi ích cho cuộc sống của mình. Tuy nhiên, sự can thiệp của con người bởi các tác nhân trực tiếp hay gián tiếp sẽ làm thay đổi các dịch vụ sinh thái, mà từ đó gây ra sự thay đổi sự thịnh vượng của con người. Sự thay đổi của các dịch vụ sinh thái sẽ làm ảnh hưởng tới sự thịnh vượng thông qua những tác động vào sự an toàn, các vật chất cần thiết cho một cuộc sống tốt, sức khỏe, các mối quan hệ xã hội và văn hóa.
Những thành phần này của sự thịnh vượng sẽ ảnh hưởng tới và bị ảnh hưởng tới sự tự do lựa chọn của con người. Để khai thác các giá trị của hệ sinh thái nhằm phục vụ đời sống con người, yêu cầu trước hết là phải hiểu được đầy đủ về thành phần và chức năng của các HST, các quy luật biến đổi của HST và sự tương tác hai chiều giữa DVHST với đời sống con người. Đây cũng là cơ sở để quản lý các HST một cách hiệu quả và bền vững. 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Hệ sinh thái nông nghiệp 1. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp HSTNN là một hệ sinh thái chịu sự điều khiển trực tiếp của con người. Con người duy trì HSTNN trên cơ sở các quy luật khách quan của tự nhiên, cộng với sự can thiệp từ bên ngoài như tăng cường các loại phân bón, hóa chất nông nghiệp, cây trồng …. để tạo ra những sản phẩm như mong muốn của mình.
Với thành phần tương đối đơn giản, đồng nhất về cấu trúc, HSTNN kém bền vững, dễ bị phá vỡ; hay nói cách khác, nó là hệ sinh thái không khép kín trong chu chuyển vật chất, chưa cân bằng. Bởi vậy, các HSTNN được duy trì trong sự tác động thường xuyên của con người để bảo vệ hệ sinh thái mà con người đã tạo ra và cho là hợp lý. Nếu không, qua quá trình diễn thế sinh thái, nó sẽ quay về trạng thái hợp lý trong tự nhiên. Ví dụ: một cánh đồng muốn gieo lúa nếu không có sự tác động thường xuyên của con người, hệ sinh thái này sẽ từ từ biến thành một cánh đồng cỏ và khi đó năng suất sinh thái mà con người thu được từ hệ sinh thái mới không cao như trạng thái mà con người mong muốn khi xây dựng.