Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lƣợc về ung thƣ tuyến tiền liệt 1. Dịch tễ ung thƣ tuyến tiền liệt 1. Trên thế giới Ung thƣ TTL là vấn đề sức khỏe toàn cầu vì tần suất mới mắc và tần suất tử vong cao, chất lƣợng sống của bệnh nhân (BN) bị giảm sút và gánh nặng chi phí điều trị chăm sóc nhiều.
UTTTL hay gặp ở nam giới trên 50 tuổi, có tỷ lệ mắc bệnh cao. Theo Cơ quan Thế giới nghiên cứu Ung thƣ IARC, UTTTL có tỷ lệ mắc bệnh cao đứng thứ 4 toàn cầu về ung thƣ chung ở cả hai giới sau ung thƣ phổi, vú, đại-trực tràng [16]. Tính riêng cho nam giới, UTTTL đứng hàng thứ 2 sau ung thƣ phổi, chiếm 15% tổng số ung thƣ các loại, ƣớc tính vào năm 2012 đã có 1,1 triệu nam giới đƣợc chẩn đoán ung thƣ tuyến tiền liệt [16], [46]. Tại châu Á, tỉ lệ mắc bệnh rất thấp ở một số nƣớc, ví dụ ở Nhật Bản là 3-4/100.000 nam giới, Hồng Kông: 1/100.
Trong khi tỷ lệ mắc bệnh của ngƣời Mỹ da trắng là 50-60/100.000 nam giới, thì ngƣời Mỹ da đen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn gấp 2 đến 3 lần, mặc dù họ sinh sống trong cùng một vùng địa lý [16].000 trƣờng hợp mắc UTTTL mới đƣợc chẩn đoán [16]. Tỷ lệ chết vì UTTTL đối với các chủng tộc ở Mỹ từ năm 1983 – 1984 là 22,7/100.000 nam giới, và tỷ lệ mắc bệnh UTTTL là 75,3/100. UTTTL rất ít gặp ở tuổi dƣới 50, trong khi đó lại tăng lên đột ngột cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong ở độ tuổi trên 80. Rất nhiều báo cáo thấy rằng tần số phát hiện ngẫu nhiên UTTTL trên khám nghiệm tử thi giống nhau ở nhiều nƣớc (30-50%), mặc dù các nƣớc này có tần số phát hiện bệnh trên lâm sàng rất khác nhau.
Hơn nữa, những ngƣời Nhật di cƣ đến Mỹ và con cái của họ lại có tỷ lệ mắc bệnh UTTTL trên lâm sàng và tỷ lệ tử vong tăng gần bằng ngƣời Mỹ chính gốc [16]. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, UTTTL có tần suất mới mắc và tần suất tử vong hiệu chỉnh theo tuổi lần lƣợt là 3,4 và 2,5 tính trên 100000 dân. Bệnh thƣờng gặp đứng hàng thứ 10 trong các ung thƣ ở cả 2 giới với 1275 trƣờng hợp mới mắc và 872 trƣờng hợp tử vong ƣớc tính hàng năm trên cả nƣớc [8], [46]. Nhìn chung, Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc châu Á có tỷ lệ UTTTL thấp (4,5–10,5/100.000) so với các khu vực có tỷ lệ trung bình nhƣ Nam Âu, Mỹ Latinh (60,1–79,8/100.000) và tỷ lệ cao nhƣ Úc, Bắc Mỹ, Bắc Âu (97,2–111,6/100.
Giải phẫu học TTL 1. Hình thể ngoài TTL là một tuyến sinh dục, nằm trong xƣơng chậu giữa cổ bàng quang và hoành niệu dục, phía sau xƣơng mu, phía trƣớc trực tràng. TTL là tuyến có cấu trúc đặc, hình nón lộn ngƣợc, đỉnh phía dƣới cụt tựa trực tiếp lên hoành niệu dục, đáy ở phía trên có các góc tù tiếp giáp với cổ bàng quang, kích thƣớc của đáy là 4 cm, dọc là 3 cm và kích thƣớc sau khoảng 2 cm [11]. TTL bao quanh đoạn đầu tiên của niệu đạo, nơi tiếp nối ngay dƣới bàng quang.1: Giải phẫu tuyến tiền liệt Nguồn: Drake R.
"Pelvis and Perineum". Gray's Anatomy for Students. Philadelphia, 4th Edition, pp. Cấu trúc giải phẫu Hệ thống ống bài xuất của TTL có cấu trúc nhánh (30–40 nhánh) và tận cùng là các tuyến dạng nang, đƣợc bao bọc trong một lớp mô đệm xơ cơ và sợi liên kết.
Bề ngoài cấu trúc tuyến có vẻ là đồng nhất nhƣng thực chất đƣợc phân chia thành những vùng khác nhau, có những ống bài xuất tập trung đổ vào niệu đạo. Về cấu tạo, đây là mô hỗn hợp, gồm các tế bào tuyến (chiếm khoảng 65% khối lƣợng TTL), tế bào cơ (chiếm 30% khối lƣợng tuyến), còn lại là mô đệm với các tế bào xơ và các sợi [11]. Dựa trên những nghiên cứu về hình thái, chức năng và các biến đổi bệnh lý, McNeal (1981) chia TTL thành 5 vùng: Vùng đệm xơ-cơ phía trước: chiếm 1/3 tổng khối lƣợng của TTL, đây là vùng hoàn toàn không có cấu trúc tuyến, cấu trúc chủ yếu là chất đệm xơ - cơ, nằm ở toàn bộ mặt trƣớc của TTL. Khi tăng sinh tế bào ở vùng này thƣờng gây ra phì đại lành tính TTL kèm theo là những triệu chứng đƣờng tiết niệu dƣới (tiểu khó, tiểu ngắt quãng, tiểu phải rặn, tia nƣớc tiểu yếu, …) Vùng trung tâm: chiếm khoảng 1/4 thể tích TTL, nằm ở đáy lộn ngƣợc của hình nón tứ giác.
Mô tuyến tiếp xúc với niệu đạo ở ụ núi. Những đƣờng ống của tuyến xếp thành vòng, đổ trực tiếp vào xung quanh các ống phóng tinh. Vùng này dễ viêm nhiễm và 8% ung thƣ TTL có nguồn gốc từ đây. Vùng chuyển tiếp: Chiếm khoảng 5% thể tích TTL, gồm những ống tuyến hợp lại với nhau ở điểm nối của các đoạn gần và xa của niệu đạo, tạo nên hai vùng nhỏ nằm 2 bên của niệu đạo.
Các tuyến của vùng này ít quan trọng về chức năng nhƣng là vùng tăng sinh mạnh nhất khi TTL phì đại lành tính. Khoảng 15–20% ung thƣ TTL phát triển trong vùng này. Vùng ngoại vi: Chiếm 70% thể tích TTL bình thƣờng, bao bọc cả phần trung tâm và vùng chuyển tiếp tại phần đáy TTL. Chính vùng này chứa gần nhƣ toàn bộ (xấp xỉ 75%) các mô tuyến của TTL.
Khoảng 70-75% ung thƣ biểu mô TTL xuất hiện ở vùng này. Vùng quanh niệu đạo: Đây là vùng nhỏ nhất và phức tạp với sự xếp kề nhau của các tế bào vừa là tuyến vừa không phải là tuyến. Các tuyến nằm xung quanh niệu. đạo, có nguồn gốc từ xoang niệu dục, chiếm 1% thể tích của toàn bộ TTL.
Phần không phải tuyến là khối cơ trơn hình trụ, nằm quanh niệu đạo có vai trò của một cơ thắt vào thời điểm phóng tinh. Vỏ bao TTL: vỏ bao TTL không phải là một bao thực sự mà do mô đệm xơ cơ của vùng ngoại vi nén ép lại tạo thành. Các tuyến nang tận cùng của vùng trung tâm và ngoại vi có thể vƣơn tới lớp vỏ bao, trong khi các tuyến nang của vùng chuyển tiếp lại nằm vùi trong mô đệm xơ - cơ phía trƣớc. Ở phần trƣớc tuyến, mô đệm của vỏ bao thƣờng hoà lẫn với mô đệm xơ - cơ phía trƣớc.
Tại vùng đỉnh tuyến, gần nhƣ không thấy lớp vỏ bao. Lớp vỏ bao là một giới hạn quan trọng để đánh giá khả năng lan rộng ra ngoài tuyến của mô ung thƣ. Mặt khác, trong phẫu thuật bóc bƣớu tăng sinh lành tính TTL có thể bóc tách cả khối ra khỏi lớp vỏ bao một cách dễ dàng.2: Sơ đồ sự phân chia các vùng của tuyến tiền liệt theo McNeal Nguồn: Drake R. "Pelvis and Perineum".
Gray's Anatomy for Students. Philadelphia, 4th Edition, pp. Giải phẫu bệnh ung thƣ TTL 1. Tổn thƣơng tiền ung thƣ Tổn thƣơng tiền ung thƣ thƣờng gặp là tân sinh trong biểu mô tuyến tiền liệt (PIN).
Tổn thƣơng này gồm 2 loại: PIN độ mô học cao (High grade PIN) và PIN độ mô học thấp (Low grade PIN). Các tổn thƣơng của PIN độ cao có thể phá huỷ lớp màng đáy nhƣng chƣa xâm phạm lớp mô đệm, còn PIN độ thấp không nên đƣợc đƣa vào chẩn đoán do không thể phân biệt đƣợc với mô TTL lành tính [2]. Đối với bệnh nhân dƣới 60 tuổi, tổn thƣơng PIN gặp trong 87% ở những mô UTTTL và 38% ở những TTL tăng sinh lành tính, còn ở bệnh nhân trên 60 tuổi tổn thƣơng PIN gặp theo thứ tự trên là 69% và 65%. UTTTL có thể ở ngay bên cạnh PIN hoặc ở nơi khác của TTL.
Tổn thƣơng PIN độ cao có tiên lƣợng xấu, nguy cơ mắc ung thƣ của những bệnh nhân này ở lần sinh thiết sau là 23–25%, tổn thƣơng này không làm tăng PSA. Sự phân biệt giữa tổn thƣơng PIN và ung thƣ biểu mô tuyến trong lòng ống là rất khó khăn, nhƣng có thể sử dụng phƣơng pháp ghi dấu hoá mô miễn dịch với kháng thể Ki-67 cho phép phân biệt chúng [2]. Ung thƣ tuyến tiền liệt (UTTTL) Phân loại UTTTL Hầu hết UTTTL là ung thƣ biểu mô tuyến (adenocarcinoma), chiếm trên 95% các loại [43], [72]. Những loại khác rất hiếm gặp, bao gồm: - Ung thƣ biểu mô tế bào chuyển tiếp.
- Ung thƣ biểu mô tế bào gai. - Ung thƣ biểu mô không biệt hóa. - Ung thƣ có nguồn gốc từ trung mô. Phân độ UTTTL Theo mô bệnh học, có nhiều cách phân độ UTTTL:.
Phân độ mô học theo Gleason (1974) [63]: Dựa trên sự thay đổi về cấu trúc tế bào cùng với mức độ biệt hoá của khối u, phân độ mô học của hệ thống này đƣợc chia thành 5 độ biệt hóa, từ cấu trúc rất biệt hoá (độ 1), đến cấu trúc không biệt hoá (độ 5), mỗi độ tƣơng đƣơng 1 điểm. Độ 1: Nang tuyến đơn đồng dạng, tròn, nhỏ đều, xếp sát nhau chặt chẽ. Độ 2: Nang tuyến đơn không đồng dạng, mất cấu trúc, sắp xếp ít chặt chẽ hơn. Độ 3: Nang tuyến đa dạng về hình dạng và kích thƣớc, xếp rời rạc, có dạng sàng hoặc dạng nhú.
Độ 4: Nang tuyến không còn đơn dạng nữa. nang tuyến và tế bào hòa vào nhau không theo quy luật, có thể có tế bào sáng Độ 5: Không còn cấu trúc tuyến, gồm những mảng tế bào hòa vào nhau hoặc riêng lẻ xâm nhập xung quanh. Các ổ tế bào thƣờng có hoại tử trung tâm. Trong cùng một khối u có thể gặp nhiều cấu trúc khác nhau.
Độ Gleason đƣợc tính bằng cách cộng độ biệt hoá của 2 mẫu bệnh phẩm đại diện nhất, vì vậy độ Gleason gồm thang điểm từ 2 đến 10 điểm. Nếu chỉ hiện diện một độ mô học thì điểm số Gleason đƣợc tính bằng cách nhân đôi độ mô học đó. Nếu một độ mô học xuất hiện <5% thể tích bƣớu thì không đƣợc tính để cộng vào điểm số Gleason (luật 5%) [44]. Từ năm 2008, Hiệp hội Giải Phẫu Bệnh Tiết Niệu quốc tế ISUP đồng thuận sử dụng điểm số Gleason cải tiến.
Nếu hiện diện một độ mô học, điểm số Gleason đƣợc tính bằng cách nhân đôi độ mô học đó. Nếu hiện diện hai độ mô học, điểm số Gleason đƣợc tính bằng tổng hai độ mô học hiện diện. Nếu hiện diện ba độ mô học, điểm số Gleason đƣợc tính bằng tổng của độ mô học phổ biến nhất cộng với độ mô học cao nhất của hai độ mô học còn lại không phân biệt tỷ lệ ung thƣ (không áp dụng luật 5%). Điểm số Gleason ≤ 5 không nên đƣợc chẩn đoán chỉ với sinh thiết TTL.