CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. C sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc Giống lợn VCN-MS15 (Meishan) được nhập 2 đợt về Việt Nam vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 theo dự án DA15. Giống lợn VCN-MS15 là kết quả của việc thu thập nguồn gen từ giống lợn Meishan Trung Quốc.
Hiện nay, chúng đang được nuôi giữ và nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phư ng- Viện Chăn Nuôi Quốc Gia. Giống lợn VCN-MS15 là một trong những giống lợn đẻ nhiều con, lợn Meishan được phân bổ chủ yếu ở tỉnh Giang Tô của Trung Quốc. Khu vực này nằm trong vành đai cận nhiệt đới, một khu vực hẹp giữa Bắc và Trung Trung Quốc, trong lưu vực sông Trường Giang Hạ và Đông Nam ộ, khu vực này có khí hậu ôn hòa. Giống Meishan từ Trung Quốc có khả năng tăng trưởng chậm h n so với các giống châu Âu và có tỷ lệ mỡ cao h n nhưng thịt lợn Meishan có mùi vị th m ngon, ngoài ra giống lợn này có khả năng chống chịu bệnh tật tốt do các đặc điểm khác biệt của hệ thống miễn dịch bẩm sinh được quy định một số gene.
Đặc điểm ngoại hình Lợn Meishan có đặc điểm là khuôn mặt có rất nhiều nếp nhăn, lông đen toàn thân và có vành lông trắng vắt qua vai bao gồm cả chân trước và ngực. Da dày màu đen đặc trưng. Tai kích thước to, dài và rủ về phía trước. Lợn có đầu nhỏ thanh, cổ dài và thân hẹp.
Lợn nái trưởng thành có chiều cao khoảng 57,8 cm, vòng ngực 100 cm và trọng lượng c thể sống 61,6 kg. Độ dày mỡ lưng là 2,5 cm và tỷ lệ thịt xẻ 66,8%. Lợn Meishan là một trong những giống lợn mắn đẻ nhất trên thế giới. Tuổi động dục 2,5-3 tháng tuổi, đạt tỷ lệ phôi sống sót cao và số con/lứa đẻ 15-16 con, bình quân 2,2 lứa/năm.
Lợn Meishan có nhiều vú: Số vú từ 17-20 vú. Thành thục về sinh dục sớm (lúc 3 tháng tuổi), đẻ nhiều con, lợn nái hiền lành, nuôi con tốt (Chu và cs, 2003) [60]. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn 1. Tuổi thành thục về tính và các yếu tố ảnh hưởng 1.
Tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Con vật đến tuổi thành thục về tính có những biểu hiện sau: - ộ máy sinh dục đã phát triển tư ng đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng lần đầu, con đực sinh tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai. - Các đặc điểm sinh dục thứ cấp xuất hiện. - Các phản xạ sinh dục xuất hiện như con cái thì có biểu hiện động dục, con đực có phản xạ giao phối.
Ở lợn cái sự thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu. Tuy vậy trong lần động dục này hầu như lợn cái không chửa đẻ mà nó chỉ báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái. Tuổi thành thục về tính có hệ số di truyền rất thấp. Theo Banne Bonadona (1995) [2] cho biết: lợn cái thường thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi.
Sau khi thành thục về tính thì biểu hiện động dục lần thứ nhất thường không rõ ràng và tiếp sau đó ở vào thời kì sau, dần đi vào qui luật bình thường, đây là một quá trình sinh lý đặc biệt của lợn cái. Tác giả Sechegel và Sklener, (1979) [35] thì cho rằng lợn Yorkshire có tuổi thành thục về tính là 250 ngày, đạt khối lượng 90 kg và tư ng ứng với lợn Polan China, loại nhỏ thì tuổi thành thục về tính là 207 ngày, đạt khối lượng 85 kg (Xuxoep, 1985) [50]. Một tác giả khác nghiên cứu trên lợn Meishan cho thấy lợn cái hậu bị Meishan thành thục về tính 100 ngày, sớm h n lợn cái hậu bị Large White. Tỷ lệ trứng rụng của lợn Meishan ở lần động dục đầu tiên thấp h n so với lợn Large White (Bolet và cs, 1986)[56].
Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính - Các yếu tố về di truyền Giống khác nhau thì sự thành thục về tính dục cũng khác nhau. Sự thành thục về tính của gia súc nhỏ sớm h n gia súc lớn. Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) 5 và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998) [77]. Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt.
So với giống lợn Large White lợn Meishan đạt tuổi thành thục về tính sớm h n khoảng 100 ngày và có số con đẻ ra nhiều h n từ 2,4 - 5,2 con trên ổ (Despres và cs, 1992)[61]. Đánh giá ảnh hưởng của giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm h n (11,3 ngày), tỷ lệ thụ thai cao h n (2 - 4%), số trứng rụng lớn h n (0,5 trứng), số con đẻ ra/ổ (0,6 - 0,7 con) và số con cai sữa/ổ (0,8 con) nhiều h n so với nái thuần chủng. Tỷ lệ nuôi sống lợn con ở nái lai cao h n (5%) và khối lượng s sinh/ổ (1 kg), khối lượng 21 ngày/ổ (4,2 kg) cao h n so với giống thuần (Gunsett và Robison, 1990) [65]. Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, (1995) [15] thì tuổi thành thục sinh dục ở lợn lai muộn h n lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái.) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày tuổi).
Ở lợn F1 thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi và lợn ngoại 6 - 8 tháng tuổi. - Các yếu tố ngoại cảnh Ngoài các yếu tố về di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ ràng và rất có ý nghĩa đến tuổi thành thục về tính. Chế độ nuôi dưỡng Chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính dục. Những lợn được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính dục sớm h n những lợn được nuôi dưỡng trong điều kiện kém.
Nguyễn Tấn Anh, (1998)[1] cho biết, để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng. Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 - 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) là 2 kg/ngày (khẩu phần 14% protein thô). Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 - 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống. Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1,0 - 2,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều h n và tăng số trứng rụng từ 2,0 - 2,1 trứng/lợn nái.
Lợn cái hậu bị phát triển từ 40 - 80 kg ở độ tuổi từ 4 - 6 tháng với khẩu phần 6 thích hợp sẽ bộc lộ đến mức tối đa tiềm năng di truyền về tốc độ sinh trưởng và tích lũy mỡ. Sau khi đạt khối lượng 80 kg mà sự thành thục về tính dục không bị chậm trễ, có thể khống chế mức tăng trọng bằng cách mỗi ngày cho lợn nái hậu bị ăn 2 kg/con/ngày với loại thức ăn hỗn hợp có giá trị 2900 Kcal ME/kg thức ăn và 14% protein thô. Việc khống chế năng lượng và protein chẳng những tiết kiệm chi phí thức ăn mà còn tránh được tăng trọng không cần thiết. Sau khi phối giống cần chuyển chế độ ăn hạn chế và thay bằng mức năng lượng trung bình.
Còn nếu tiếp tục cho ăn ở mức năng lượng cao ở giai đoạn chửa đầu sẽ làm cho tỷ lệ phôi chết cao và làm giảm số lợn con sinh ra trong một ổ. Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng tới tuổi động dục John R. Diehl và cs (1996) [25] cho biết: những lợn cái hậu bị sinh ra trong mùa đông thì động dục lần đầu chậm h n những con cái hậu bị được sinh ra trong các mùa khác trong năm. Ngoài ra sự thành thục về tính dục bị chậm là do nhiệt độ.
Nếu nhiệt độ quá thấp cũng sẽ ảnh hưởng tới phát dục. Vì vậy cần có những biện pháp chống nóng, chống lạnh cho lợn. Còn đối với thời gian chiếu sáng nó được xem như là một phần của ảnh hưởng mùa vụ. Mùa đông thì thời gian chiếu sáng trong ngày thấp h n so với các mùa khác trong năm.
Thời gian chiếu sáng trong ngày là 12 giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái hậu bị động dục sớm h n so với những lợn có thời gian chiếu sáng trong ngày thấp h n. Ảnh hưởng của phư ng thức nuôi nhốt đến tính phát dục Mật độ nuôi nhốt ảnh hưởng đến sự thành thục về tính dục. Những lợn cái hậu bị nuôi nhốt với mật độ đông trên một đ n vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Tuy nhiên, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển cũng làm chậm sự thành thục về tính.
Như vậy, đối với lợn cái hậu bị cần được nuôi theo nhóm ở mật độ thích hợp thì sẽ không ảnh hưởng đến sự phát triển tính dục. Mặt khác, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng lớn đến năng suất của lợn và tuổi động dục lần đầu. Tiểu khí hậu chuồng nuôi được hình thành do nhiều tác nhân: khí hậu vùng, kiểu chuồng, hướng chuồng, độ thông thoáng, khả năng thoát nước, hàm lượng khí NH3, CO2, H2S. Sự trao đổi khí và lượng phân 7 trong chuồng quyết định đến tiểu khí hậu chuồng nuôi.
Thí nghiệm được tiến hành ở Úc cho thấy hàm lượng amoniac (NH3) cao sẽ làm chậm thời gian động dục lần đầu là 25 - 30 ngày (Paul Hughes và James Tilton, 1996)[74]. Ảnh hưởng của con đực Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính dục của lợn cái hậu bị. Người ta làm thí nghiệm thấy rằng nếu cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm sự thành thục về tính dục so với những cái hậu bị cùng lứa tuổi được tiếp xúc với lợn đực.