Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu ngoại hình của Gà Móng Các đặc điểm về ngoại hình là những đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất, thị hiếu và giá trị kinh tế của vật nuôi. Các đặc điểm này gồm: tầm vóc cơ thể, đầu, mào, mỏ, bộ lông, chân.
- Hình dáng, kích thước cơ thể: Tùy mục đích sử dụng, các dòng gà được chia thành 3 loại hình: Hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng. Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn. Gà hướng thịt có thân hình to thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn. Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng.
- Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của da dầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [1]. - Mào: Theo hình dáng của mào, mào dưới ta có thể biết được trạng thái sức khỏe và điều kiện sống của gà.
Mào và mào dưới thuộc về các đặc điểm sinh dục phụ, - Mỏ: Chắc chắn và ngắn. Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi ở cuối thời kỳ đẻ trứng. - Bộ lông: Thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong phân loại.
Khi mới nở, gia cầm con được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ dần được thay thế bằng lông cố định. Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn. Gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược với 5 gen liên kết quy định tốc độ mọc lông. Màu lông do một số gen quy định, phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do tốc độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông màu trắng. - Chân: Gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô. Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống.
Đặc điểm chân cao liên quan đến khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm (Nguyễn Chí Bảo (1978) [1]. Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [Error! Reference source not found.] sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước. Sinh trưởng là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là protein cũng là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Đối với gia cầm, sự sinh trưởng được chia làm hai giai đoạn chính: thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành.
Như vậy, sinh trưởng sẽ thông qua 3 quá trình: phân chia tế bào để tăng số lượng, tăng thể tích tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào. Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục. Phát dục là quá trình thay đổi về chất tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành.
Cách đánh giá khả năng sinh trưởng Để đánh giá khả năng sinh trưởng chúng ta còn sử dụng tốc độ sinh trưởng tuyện đối và tốc độ sinh trưởng tương đối. - Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần 6 - Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ thể từ lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tương đương đối so dạng Hyperbol.
Sinh trưởng tương đối giám dần qua các tuần tuổi. - Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi. Theo Chambers (1990) [Error! Reference source not found.] đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm chính gồm 4 pha sau: + Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc độ nhanh sau khi nở. + Điểm uốn của đường cong tại điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất.
+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn. + Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành. Thông thường, người ta sử dụng khối lượng ở các tuần tuổi, thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy và được thể hiện đơn giản theo đường cong sinh trưởng. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng: yếu tố di truyền của giống; giới tính; tuổi; tốc độ mọc lông; chế độ dinh dưỡng; khí hậu thời tiết.
Cơ sở nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống Tỷ lệ nuôi sống là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng. Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện quy trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn dùng để đánh giá sức sống, sức sản xuất, khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm. Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: giống, trạng thái cơ thể, điều kiện môi trường và chế độ dinh dưỡng,… Marco (1982) [Error! Reference source not found.] cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng đến khác dịch bệnh. Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể có tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường.
Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh kí sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở xứ lạnh (Trần Đình Miên và cs., 1992) [Error! Reference 7 source not found. Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [Error! Reference source not found.], hệ số di truyền sức sống của gà là 0.13, còn Nguyễn Văn Thiện (1995) [Error! Reference source not found.] cho biết hệ số di truyền sức sống của gà là 0. Cơ sở tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng Cơ sở tiêu tốn thức ăn /1 kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng. Trong chăn nuôi hàng hóa, thức ăn chiếm 65-70% giá thành các loại sản phẩm động vật.
Do vậy nếu tiêu tốn thức ăn lớn thì hiệu quả kinh tế thấp và ngược lại. Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con giống, tỷ lệ máu lai, quy mô, mật độ nuôi, thức ăn, chuồng trại, khí hậu, tình trạng vệ sinh, dịch bệnh, kỹ thuật… 1. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các tiêu chí về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, kết quả thụ tinh và ấp nở. Đối với các giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng khác nhau.
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi để quả trứng đầu tiên: Được xác đinh bằng ngày tuổi của đàn gà mái khi bắt đầu có 5% tổng số mái đẻ trứng. Mỗi giống gà có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên khác nhau. Sản lượng trứng Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian nghỉ đẻ kéo dài. Trứng gia cầm nói chung và của gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ.
Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ. Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên. Nhiều tài liệu nghiên cứu đều xác định ở gà mái, trong quá trình phát triển từ phôi hai bên phải, trái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất đi, còn lại buồng trứng bên trái. Số lượng tế bào trứng của gà mái ở 8 thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được 3.600 trứng, nhưng chỉ có 1 số lượng rất hạn chế được chín và rụng (Phùng Đức Tiến, 1996) [Error! Reference source not found.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng: Theo Nguyễn Trọng Thiện (2008) [22], sức sản xuất trứng chịu sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau: các gen quy định tính trạng này nằm trên nhiêm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính. Sản lượng trứng được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ. Hayer và Carthy (1970) [41] cho rằng sức đẻ trứng của gà mái chịu sự ảnh hưởng của 5 yếu tố di truyền cá thể là: thời gian kéo dàu chu kỳ đẻ trứng sinh học, cường độ đẻ, tính nghỉ đẻ mùa đông, tính ấp bóng, tuổi thành thục sinh dục. Tuổi thành thục sinh dục: Thường tuổi thành thục sinh dục của gà dao động trong khoảng 19-24 tuần tuổi.
Tuổi thành thục sinh dục sớm, tuổi thành thục về thể vóc thì sức bền đẻ trứng không cao vì cơ thể gà mái chưa thành thục về thể vóc, vẫn đang sinh trưởng phát dục để hoàn thiện cấu trúc chức năng cơ thể, nhưng chất dinh dưỡng không thể tập trung cho hoàn thiện cấu trúc cơ thể được mà phải cung cấp cho quá trình tạo trứng nên ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng về sau. SLT 3-4 tháng đầu tiên có mối tương quan dương với SLT cả năm. Vì vậy, để xác định chỉ tiêu về sức đẻ trứng người ta thường tính SLT 3-4 tháng đầu để có phán đoán sớm và kịp thời trong công tác giống. Nguyễn Chí Bảo (1978) cho biết hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên 0.