Đặt vấn đề Đất đai là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt của con người, là “vật mang” của các hệ sinh thái trên trái đất. Là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình văn hóa-xã hội, an ninh - quốc phòng. Đối với nước ta, tại điều 4 của luật đất đai 2013 đã ghi rõ: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng.
Tuy nhiên đất đai có giới hạn về diện tích trong khi nhu cầu về đất đai cho các ngành không ngừng tăng cho nên giá trị về đất đai ngày càng cao. Chính vì vậy, việc quản lý đất đai luôn là mục tiêu quốc gia của mọi thời đại nhằm nắm chắc và quản lý chặt chẽ quỹ đất đai, nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Công tác quản lý Nhà nước về đất đai với 15 nội dung được ghi nhận tại Điều 22 của Luật đất đai 2013, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước nắm chắc quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và khai thác các tiềm năng của đất. Xã Cổ Lũng nằm ở phía bắc Thành phố Thái Nguyên, trên trục đường Quốc lộ 3 chính vì vậy xã có điều kiện địa lý đất đai thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Với những lợi thế đó chính quyền địa phương đã bám sát sự chỉ đạo của cấp trên đồng thời đưa nghị quyết của Đảng vào triển khai và đạt được kết quả khả quan. Cùng với quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng lên khiến quá trình sử dụng đất có nhiều biến động lớn, gây áp lực cho công tác quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương. Vì vậy để quản lý sử dụng triệt để, hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này đòi hỏi công tác quản lý sử dụng đất một cách chặt chẽ, chính xác và hợp lý. Từ thực tế cũng như nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề, để góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái n 2 Nguyên, được sự nhất trí của UBND xã Cổ Lũng cùng với sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Th.S Vương Vân Huyền – cán bộ giảng dạy khoa Quản lý Tài Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 - 2015” 1. Mục tiêu của nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã Cổ Lũng theo 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai theo Luật đất đai 2013. - Phân tích những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp giúp cho công tác quản lý đất đai ngày càng khoa học và đạt được hiệu quả cao nhất.
Mục tiêu cụ thể - Nắm được thực trạng quản lý và sử dụng đất đai của xã. - Đảm bảo độ chính xác, phản ánh đúng thực trạng đất đai tại địa phương. - Những đề xuất cần phải có tính khả thi và phù hợp với nhu cầu sử dụng. - Phân tích rõ các nội dung trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân. - Nghiên cứu vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn để tìm ra cái mới cho lý thuyết, từ đó quay trở lại áp dụng cho thực tiễn. Ý nghĩa thực tiễn - Nắm được điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của địa phương.
- Nắm được tình hình quản lý và sử dụng đất đai của xã. - Tuyên truyền sâu rộng tới hộ dân trong xã về quyền, lợi ích và nghĩa vụ trong Luật đất đai. - Trang bị thêm kiến thức và giúp các nhà quản lý thấy được những mặt mạnh và mặt hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của nghiên cứu 2. Cơ sở lý luận của nghiên cứu - Khái niệm về đất đai: “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa,…)”. Như vậy, “đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang – trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các ngành khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. - Khái niệm về quản lý nhà nước: - Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm n 4 vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thống quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương tiến hành.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [11]. - Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [11]. Nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về đất đai 2. Đối tượng, mục đích, yêu cầu, nguyên tắc quản lý của quản lý nhà nước về đất đai * Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai - Các chủ thể quản lý và sử dụng đất: - Các chủ thể quản lý đất đai: + Các chủ thể quản lý đất đai là cơ quan nhà nước: Cơ quan thay mặt nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương theo cấp hành chính, đó là UBND các cấp và cơ quan chuyên môn ngành quản lý đất đai ở các cấp.
Cơ quan đứng ra đăng ký quyền quản lý đối với diện tích đất chưa sử dụng, đất công ở địa phương. + Các chủ thể quản lý đất đai là các tổ chức như: Ban quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Những chủ thể này không trực tiếp sử dụng đất mà được nhà nước cho phép thay mặt nhà nước thực hiện quyền quản lý đất đai. * Mục đích, yêu cầu của quản lý nhà nước về đất đai Mục đích: - Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; n 5 - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia; - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất; - Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường.
Yêu cầu: - Phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính. * Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai Trong quản lý nhà nước về đất đai cần chú ý các nguyên tắc sau: a, Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kì một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp của toàn dân mới có quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
Vấn đề này được quy định tại Điều 18, Hiến pháp 1992 “nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” và được cụ thể hơn tại Điều 4, Luật Đất đai 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thống nhất và quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. b, Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng Theo luật dân sự thì quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai.