Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời đó là món quà vô giá. Đất đai là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là sự sống là đối tƣợng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trƣờng hoạt động sản xuất, một bộ phận quan trọng của môi trƣờng sống. Đất đai là điều kiện tiên quyết đối với tất cả các ngành sản xuất và hoạt động của con ngƣời. Đất đai là nơi con ngƣời xây dựng nhà cửa và các công trình khác phục vụ cuộc sống con ngƣời, đất đai là nơi xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nhƣ để xây dựng nhà xƣởng, nhà kho, bố trí máy móc.
Đối với nông nghiệp đất đai vừa là đối tƣợng lao động vừa là công cụ lao động, là nơi con ngƣời dùng để trồng trọt, chăn nuôi, cung cấp lƣơng thực thực phẩm cho cuộc sống của con ngƣời. Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong hệ thống quản lý Nhà nƣớc và điều hành xã hội. Do vậy, thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân sẽ củng cố và tăng niềm tin của nhân dân vào đƣờng lối lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nƣớc. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của đất đai, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm và đƣa ra nhiều chủ chƣơng chính sách pháp luật để quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả quỹ đất.
Việc ban hành các quy định pháp luật về đất đai cũng là cơ sở để thực hiện quyền lực và ý chí của Nhà nƣớc, là căn cứ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng đất. Phƣờng Tân Thịnh nằm ở phía tây thành phố Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên của Tân Thịnh là 305,77 ha. Trong đó việc giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập hơn cả vì giá trị sử dụng cũng nhƣ giá đất cao hơn 2 khi nằm ở trung tâm thành phố nên việc xảy ra tranh chấp đất đai về số đơn thƣ tố cáo là rất nhiều, gây nhiều bức súc cho nhân dân.
Vì vậy, để giúp phƣờng có hƣớng đi đúng trong phát triển nền kinh tế bền vững, giúp ngƣời dân phát triển tốt về kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống ngƣời dân là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ nhu cẩu thực tế đó cùng với sự nhất trí của khoa Quản lý tài nguyên đồng thời đƣợc sự giúp đỡ của Th.S Ngô Thị Hồng Gấm. Em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn phường Tân Thịnh thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2013-2015”. Mục tiêu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát - Tổng hợp và phân tích đƣợc những thuận lợi khó khăn, ƣu điểm khuyết điểm trong quá trình thực hiện công tác đồng thời đề xuất và kiến nghị một số giải pháp để giải quyết các tranh chấp về đất đai, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với tình hình thực tế địa phƣơng. - Nắm chắc các quy định về trình tự thủ tục trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai. Mục tiêu cụ thể Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp , khiếu nại , tố cáo về đất đai trên địa bàn phƣờng Tân Thịnh giai đoạn 2013 – 2015. Từ đó tìm ra những khó khăn hạn chế trong công tác , giải quyết tranh chấp , khiế u nại, tố cáo về đất đai của phƣờng để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này cho phƣờng Tân Thịnh trong thời gian tới.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Ngay từ ngày giành độc lập 1945, đảng và nhà nƣớc đã quan tâm ngay đến việc quản lý và sử dụng các loại đất đai nhƣ đất ở, đất nông nghiệp, đất công nghiệp. với các luật đƣợc đƣa ra: Luật đất đai 1988, luật đất đai 1993, luật đất đai 2003 và mới đây là luật đất đai 2013 cùng với sự thay đổi liên tục nhằm hoàn thiện các chinh sách về đất đai cũng nhƣ các chính sách phát triển khác để sao cho phù hợp với tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội của nƣớc ta hiện nay [5]. Với diện tích đất tự nhiên của Việt Nam là 331.212 km², trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.560 ha, dân số là 80.4 triệu ngƣời, bình quân đất tự nhiên trên đầu ngƣời là 4.9 m 2 bằng 1/7 mức bình quân thế giới, đi kèm với sự phát triển không ngừng đó không thể chánh khỏi các tranh chấp về đất đai có thể phát sinh do lịch sử ,các chính sách, chế độ từ chƣớc để lại với đó là sự gia tăng dân số nhanh chóng đất đang là vấn đề nóng hỏi của Việt Nam nói trung và thế giới nói riêng.
Các mâu thuẫn về đất đai đó đƣợc thể hiện thông qua các vụ tranh chấp khiếu nại tố cáo. Căn cứ pháp lý - Luật đất đai 2003 - Luật đất đai 2013 : Luật đất đai số 45/2013/QH13 đƣợc thông qua vào ngày 29 tháng 1 năm 2013 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2014, thay thế luật đất đai 2003. - Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về hƣớng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 của Chính phủ. (Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001.
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003. 4 - Nghị Định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; - Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005. Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 6 năm 2004. - Luật Khiếu nại năm 2011 - Luật Tố cáo năm 2011 - Thực hiện tố t tinh thầ n Thông báo Kết luận số 130-TB/TW, ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị “Về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới”; - Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số Điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 2004, năm 2005.
- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại. - Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo. - Quyết định số 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới công tác tiếp công dân. - Các Thông tƣ của Thanh tra Chính phủ: Thông tƣ số 01/2009/TT- TTCP ngày 15/12/2009 Quy định Quy trình giải quyết tố cáo; Thông tƣ 5 04/2010/TT-TTCP ngày 26/08/2010 Quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo.
- Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 22/12/2010 của Tỉnh ủy về chƣơng trình công tác trọng tâm toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2010-2015. Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 2. Tranh chấp về đất đai 2. Khái niệm Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất giữa hai bên hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai (khoản 24 điều 3 trong luật đất đai 2013) 2.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đất đai -Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi các tranh chấp mà đƣơng sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50. Đối với ngƣời dân, khi có tranh chấp về đất đai mà không có giấy chứng nhận và hoặc các giấy tờ theo quy định thì cũng không có quyền lựa chọn cơ quan giải quyết nào khác ngoài UBND và cơ quan quản lý nhà nƣớc về tài nguyên môi trƣờng. Quy định này đã phần nào làm hạn chế quyền lựa chọn phƣơng án giải quyết tranh chấp của ngƣời dân, vừa tăng áp lực lên các cơ quan hành chính nhà nƣớc. - Những hạn chế trên đã đƣợc khắc phục bằng những quy định tại Luật Đất đai 2013.
Tại khoản 1 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đƣơng sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Các giấy tờ quy định tại điều 100 Luật Đất đai 6 2013 vẫn giữ nguyên nội dung các quy định tại khoản 1, 2 và khoản 5 điều 50 Luật Đất đai 2003 và có sự bổ sung thêm một số trƣờng hợp đó là: - Các loại giấy tờ khác đƣợc xác lập trƣớc ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ. - Giấy tờ đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành; - Cộng đồng dân cƣ đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đƣờng, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này. -Tại khoản 2 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đƣơng sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đƣơng sự chỉ đƣợc lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.