MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong suốt hơn 90 năm lịch sử, Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Các thành tựu này đã đóng góp quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia, xây dựng nông thôn ngày càng phát triển, hiện đại và văn minh. Để phát triển một cách đồng bộ nông nghiệp và nông thôn, cùng từng bƣớc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời nông dân, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đã đƣa ra nhiều chủ trƣơng và chính sách quan trọng, trong đó có Chƣơng trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP).
Tịnh Biên là vùng núi bán sơn, vùng này mang nét đặc trƣng của ba vùng sinh thái khác nhau: vùng đồng bằng, vùng ven chân núi và vùng đồi núi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp. Mặc dù sản phẩm nông nghiệp của huyện Tịnh Biên không có gì đặc biệt hay nổi bật. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây chính là cách tƣ duy và phƣơng pháp làm việc của Đảng, chính quyền và cộng đồng dân cƣ tại huyện Tịnh Biên, trong việc sắp xếp cây trồng và chăn nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái và đặc điểm tự nhiên của huyện. Thực tế, nông nghiệp ở Tịnh Biên vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định.
Chất lƣợng nông sản vẫn chƣa đạt mức cao, các sản phẩm truyền thống và đặc sản của huyện chƣa phát triển mạnh, không đa dạng về mẫu mã hàng hóa. Trình độ tri thức và trình độ lao động của ngƣời dân cũng còn hạn chế. Việc phát triển các sản phẩm có lợi thế so với huyện Tịnh Biên là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, và sản xuất các sản phẩm OCOP. Để đánh giá thực trạng triển khai Chƣơng trình OCOP và xác định các hạn chế trong quá trình thực hiện chƣơng trình, từ đó tìm ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả của chƣơng trình này tại huyện Tịnh Biên, có ý nghĩa quan trọng 1 đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn của huyện.
Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá Chương trình OCOP trên địa bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” là thực sự cần thiết, góp phần phát triển các sản phẩm chủ lực, đặc sản, lợi thế của địa phƣơng theo Chƣơng trình OCOP. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Nghiên cứu trong nước Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Công (2020) về hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chƣơng trình "Mỗi xã, phƣờng một sản phẩm - OCOP" tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, đã cho thấy kết quả tích cực. Huyện Vân Đồn đã thành công trong việc tổ chức các chƣơng trình hội chợ và triển lãm, cùng việc xây dựng các trung tâm giới thiệu sản phẩm OCOP để đƣa các sản phẩm truyền thống của địa phƣơng ra thị trƣờng.
Qua đó, huyện đã ký kết đƣợc các hợp đồng tiêu thụ với các doanh nghiệp đầu mối, siêu thị bán lẻ trên địa bàn và các tỉnh thành khác. Nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chƣơng trình "Mỗi xã, phƣờng một sản phẩm". Đầu tiên là tăng cƣờng sự lãnh đạo của các cấp chính quyền và cơ quan, đơn vị liên quan. Thứ hai, cần tăng cƣờng công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là các đơn vị doanh nghiệp và hợp tác xã.
Cuối cùng, cần tập trung đào tạo và tập huấn cho lãnh đạo các tổ chức kinh tế tham gia vào chƣơng trình. Nghiên cứu của Huỳnh Quang Thành (2020) về thực trạng và giải pháp thực hiện Chƣơng trình OCOP tại tỉnh Khánh Hòa đã cho thấy những kết quả tích cực. Trƣớc hết, nhận thức của xã hội, các cấp ủy và chính quyền cùng cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã đã đƣợc nâng cao về vị trí quan trọng của Chƣơng trình OCOP trong phát triển kinh tế nông thôn. Tham gia Chƣơng trình, các chủ thể sản xuất đã nhận thức rõ đƣợc lợi ích của việc tham gia, từ đó nâng cao chất lƣợng sản phẩm để đáp ứng yêu cầu thị trƣờng, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho ngƣời dân, đồng thời thực hiện hiệu quả các tiêu chí trong nhóm "Kinh tế và tổ chức sản xuất" trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.
Chƣơng trình đã nhận đƣợc sự hƣởng ứng tích cực từ các chủ thể sản xuất. Sản 2 phẩm OCOP đã có sự tiến bộ về chất lƣợng, đa dạng về mẫu mã, bao bì và tuân thủ các quy định về tem, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đặng Huyền Trang (2021) đã thực hiện một nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng của Chƣơng trình OCOP tại tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình tham gia OCOP của các chủ thể vẫn chỉ dừng lại ở mức các chủ thể đƣợc chọn sản phẩm để làm điểm mạnh của tỉnh hoặc huyện, chƣa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế của chính đơn vị sản xuất.
Các tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh Sơn La tập trung chủ yếu vào hoạt động sản xuất mà chƣa có một tầm nhìn chiến lƣợc trong việc xây dựng thƣơng hiệu cho sản phẩm. Trong khi đó, việc xếp hạng cao của các sản phẩm ở các cấp cao hơn (tỉnh, trung ƣơng) có nghĩa là các sản phẩm đó có lợi thế khi tham gia vào thị trƣờng bên ngoài tỉnh. Do đó, các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và các hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Sơn La cần tận dụng các hỗ trợ từ cấp huyện, tỉnh để phát triển thƣơng hiệu và quảng bá sản phẩm một cách hiệu quả. Các nghiên cứu trên tập trung vào việc đánh giá và nghiên cứu thực trạng, triển khai, và hiệu quả của Chƣơng trình OCOP tại các địa phƣơng khác nhau, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về chƣơng trình.
Một số điểm chung mà các nghiên cứu này tìm ra là: các địa phƣơng đã chú trọng đến việc quảng bá và tiếp thị sản phẩm OCOP thông qua các hoạt động trƣng bày và giới thiệu sản phẩm cho khách hàng, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ cho các sản phẩm truyền thống của địa phƣơng. Nghiên cứu ngoài nước Kanako Mukai & Ryo Fujikura (2015). Mỗi làng một sản phẩm: đánh giá và bài học từ các dự án viện trợ OVOP. Dự án Mỗi làng một sản phẩm bắt nguồn từ tỉnh Oita của Nhật Bản chỉ là một phần trong nhiều dự án hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn ở hơn 30 quốc gia.
Tuy nhiên, không phải mọi nỗ lực đều dẫn đến mức độ bền vững nhƣ nhau. Tỉnh Oita xây dựng phong trào của mình dựa trên ba nguyên tắc: địa phƣơng nhƣng toàn cầu, tự lực và sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Các dự án đáp ứng các nguyên tắc này thƣờng đƣợc coi là bền vững. Những nguyên tắc này cũng có thể đƣợc áp dụng cho các dự án ở nƣớc ngoài.
Ngoài ra, để tiến hành nghiên cứu, các tác giả đã phỏng 3 vấn nhiều nhân viên tham gia vào phong trào OVOP ở tỉnh Oita, Thái Lan, Cộng hòa Kyrgyzstan và Lào, cũng nhƣ các chuyên gia và tình nguyện viên của JICA. Schumann (2016) thực hiện nghiên cứu về Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) và Phát triển lực lƣợng lao động: Bài học cho sự tham gia của các cộng đồng nông thôn trên khắp thế giới. Qua đó, cho thấy việc phát triển nguồn nhân lực trong cộng đồng cần đƣợc đặt lên hàng đầu để bắt đầu OVOP và để duy trì hoạt động của nó. Lãnh đạo lấy con ngƣời làm trung tâm là rất quan trọng trong việc duy trì niềm tin và động lực của những ngƣời tham gia OVOP.
Các trƣờng hợp cũng cho thấy rằng các cá nhân đƣợc hƣởng lợi từ việc đào tạo và tăng thu nhập bằng cách tham gia vào các hoạt động OVOP, nhƣng điều này không phổ biến ở những khu vực có thực tiễn không nhất quán và ít chú trọng đến mạng lƣới và chia sẻ kiến thức. Bằng cách cộng tác với các tổ chức khu vực công và tƣ nhân có mục tiêu chung thông qua mạng lƣới và chia sẻ kiến thức, các cộng đồng có thể đạt đƣợc tác động tập thể lớn hơn thay vì tác động hạn chế do cách tiếp cận phân tán, từng phần. Beatrice Nathania và các cộng sự (2022). Phục hồi kinh tế thôn bản thông qua phƣơng pháp tiếp cận OVOP dựa trên công nghệ.
Chƣơng trình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) dựa trên công nghệ là một chƣơng trình nhằm tạo ra các sản phẩm làng nghề ƣu việt thông qua quản lý tiếp thị dựa trên công nghệ. Nghiên cứu này sử dụng phân tích định tính và tạo ra một ứng dụng tiếp thị kỹ thuật số sẵn sàng để ngƣời dùng sử dụng. Các giai đoạn của nghiên cứu bắt đầu từ rút gọn dữ liệu, hiển thị dữ liệu đến rút ra kết luận. Thiết kế dữ liệu đƣợc thực hiện bằng cách làm cho phần mềm dựa trên máy tính.
Các mẫu và nguồn dữ liệu cho nghiên cứu này là các cán bộ thôn, nhóm nông dân. Kết quả của nghiên cứu này giải thích rằng việc áp dụng OVOP dựa trên công nghệ là rất phù hợp và khả thi tại Làng Horsik. Tác giả đã kiểm chứng lại kết quả nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm cũng nhƣ đào tạo về việc sử dụng ứng dụng. Kết luận từ nghiên cứu này là việc áp dụng OVOP dựa trên công nghệ ở Làng Horsik có cơ hội thành công rất cao và cải thiện kinh tế làng thông qua việc tăng doanh số bán các sản phẩm cao cấp của làng.
Sự hợp tác của chính phủ, cán bộ thôn, nhóm nông dân và các tổ chức thông qua kết quả của 4 nghiên cứu này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái sinh Làng Horsik thành một làng du lịch hiệu quả. Theo các nghiên cứu đƣợc liệt kê, có một số điểm chung quan trọng nhƣ sau: Các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực trong việc thành công và bền vững của chƣơng trình OCOP, việc áp dụng quản trị và phƣơng pháp quản lý hiệu quả. Đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng tầm nhìn chiến lƣợc và phát triển thƣơng hiệu cho các sản phẩm OCOP.