Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình dịch HIV/AIDS hiện nay 1. Tĩnh hình dịch HIV/AIDS trên thế giới AIDS đang là một thảm họa toàn cầu của thể kỷ 21, bởi vì từ trường hợp phát hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1981 cho tới nay nó đã trở thành đại dịch, tác động nặng nề lên các mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, sức khoẻ, và tâm thần của loài người trên khắp thế giới. Trong báo cáo cập nhật tình hình AIDS toàn cầu năm 2009 do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) công bố tháng 12/2009 đã nêu rõ số người nhiễm HIV/AIDS tiếp tục tăng trong năm 2008 ước tính vào khoảng 33,4 triệu người trong đó có 31,3 triệu người lớn (từ 15-49 tuổi) và 2,1 triệu trẻ em (dưới 15 tuổi).
Trong số người lớn nhiễm HIV/AIDS đang còn sống trên thế giới nói trên có 15,7 triệu là phụ nữ, chiếm 47% [33], Neu tính theo tổng số người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống đến cuối năm 2008 thì khu vực cận Sahara của Châu Phi vẫn là nơi HIV tấn công nặng nề nhất, với khoảng 22,4 triệu dân (dao động trong khoảng từ 20,8-24,1 triệu) đang mang trong mình HIV/AIDS, tăng gần 2,7 triệu người so với năm 2001 và chiếm 2/3 tổng số người hiện nhiễm HIV/AIDS đang sống trên hành tinh chúng ta [33]. Mức độ nhiễm HIV/AIDS ở từng nước trong khu vực Châu Á đến nay vẫn được ghi nhận là tương đối thấp so với một sổ châu lục khác, nhất là so với Châu Phi. Tuy nhiên, do dân số của nhiều nước Châu Á rất đông cho nên thậm chí chỉ với một tỷ lệ rất nhỏ người nhiễm HIV thì tính ra con số người nhiễm ở châu lục này đã ở mức “khổng lồ”. Các ước tính gần đây nhất cho thấy, đến cuối năm 2008, ở Châu Á có khoảng 4,7 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sổng, trong đó có 350.000 người bị nhiễm mới.
số người Châu Á bị AIDS cướp đi trong năm 2008 là 330. Các chuyên gia phòng chổng AIDS cho rằng các hành vi nguy cơ cao vẫn là nguyên nhân làm cho dịch HIV/AIDS tiếp tục trầm trọng ở Châu Á. Cụ thể hơn, báo cáo của UNAIDS và WHO cho rằng “tâm điểm” của dịch HIV/AIDS ở 6 Châu lục này nằm ở sự chi phối lẫn nhau giữa hành vi NCMT và hành vi quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn. Trong khi đó cũng theo UNAIDS và WHO, các chiến lược dự phòng ở Châu Á vẫn còn ít hoặc chưa đủ mạnh, chưa phản ứng đúng thực tế về sự tồn tại của sự liên kết giữa hai nhóm hành vi nguy cơ cao nói trên ở hầu hết các nước trong châu lục này.
Theo báo cáo của ủy ban về AIDS ở Châu Á, mặc dù đã có những tấm gương sáng về ứng phó hiệu quả và tập trung ở châu Á, như ở Campuchia, Thái Lan và ở một số bang của An Độ, nhưng các ứng phó nhiều khi vẫn chưa kịp thời hoặc không duy trì được hiệu quả lâu dài. Các quốc gia vẫn chưa coi đây là nhiệm vụ cấp thiết và các ứng phó còn thiếu sự gắn kết với nhau [27]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam Ở Việt Nam sau gần 20 năm kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên phát hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/1990. Năm 1993, dịch HIV bùng nổ trong nhóm NCMT ở Thành phổ Hồ Chí Minh, đến tháng 12/1998, dịch đã lan tràn ra toàn quốc.
Tính đến ngày 31/12/2009, cả nước hiện có 160.019 trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống, số bệnh nhân AIDS hiện tại là 35.603 người, sổ người nhiễm HIV đã tử vong là 44.540 trường hợp [2]. Dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn trong giai đoạn tập trung, các trường họp nhiễm HIV chủ yếu tập trung cao nhất trong nhóm NCMT với tỷ lệ hiện nhiễm là 18,4% và GMD tỷ lệ nhiễm HIV là 3,2%, bên cạnh đó số liệu giám sát phát hiện cho thấy trên 50% người nhiễm HIV là NCMT. về cơ bản, chương trình HIV/AIDS đã kiềm chế được tốc độ gia tăng của đại dịch thể hiện tỷ lệ hiện nhiễm HIV dưới 0,3% so với mục tiêu của chiến lược quốc gia đề ra [2]. Theo ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam năm 2007-2012, vào năm 2010, toàn quốc có 254.000 người nhiễm HIV, con số này sẽ tăng lên đến 280.
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT được dự báo sẽ ổn định ở mức 30% trong giai đoạn 2007 - 2012. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này cũng ổn định ở những tỉnh, thành phố đã bùng phát dịch sớm bao gồm cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh, nhưng tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại đây vẫn vượt qua tỷ lệ hiện nhiễm trung bình trên toàn quốc (45% ở cần 7 Thơ, 55% ở Thành phổ Hồ Chí Minh, 56% ở Quảng Ninh). Tỷ lệ hiện nhiễm ổn định không có nghĩa là các chương trình dự phòng có thể thu hẹp lại. Thay vào đó điều này chỉ ra rằng việc HIV vẫn tiếp tục lây nhiễm cần phải được kiểm soát bằng các chương trình dự phòng hiệu quả [7].
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Bến Tre 1. Các thông tin chung về tỉnh Bến Tre và địa bàn can thiệp. Ben Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tự nhiên là 2.315 km2, Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, Nam giáp tỉnh Trà Vinh, Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, Đông giáp biển đông. Tỉnh gồm có 01 Thành phố và 08 huyện.
Dân số là 1.589 người, dân tộc kinh chiếm đa số (98%). Người dân ở đây sổng chủ yếu bằng kinh tế vườn, kinh tế biển, trao đổi hàng hóa với các tỉnh lận cận và Thành phố Hồ Chí Minh [20], 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS Năm 1993 Ben Tre phát hiện 01 người nhiễm HIV đầu tiên tại thị trấn Giồng Trôm, đến ngày 31/12/2009 số người nhiễm được phát hiện là 1296 người, số người chuyển sang AIDS là 625 và tử vong 399 người. Dịch HIV/AIDS ở tỉnh Bến Tre vẫn trong giai đoạn tập trung và có khuynh hướng chững lại trong những năm gần đây, các trường hợp nhiễm HIV vẫn tập trung ở nhóm NCMT qua giám sát phát hiện thì khoảng một nữa người nhiễm HIV là đối tượng NCMT (47,5%) [20].
Hiện nay, tất cả 9 huyện và Thành phố Bến Tre đều có người nhiễm, số người nhiễm tập trung nhiều nhất ở Thành phổ Bến Tre, kế đến là huyện Châu Thành và Mỏ Cày. Tổng sổ nhiễm HIV của 3 huyện/thành phổ này chiếm 70% số nhiễm HIV toàn tỉnh. 8 250 200 150 —♦— số nhiễm mới 100 50 0 Hĩnh 1. Tĩnh hình nhiễm HIV theo năm tại tỉnh Ben Tre.
Các nghiên cứu liên quan đến lây nhiễm HIV/AIDS và các nghiên cứu đánh giá can thiệp trong nhóm NCMT trên Thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu trên The giới Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu lây truyền HIV trong nhóm NCMT là do hành vi dùng chung BKT và QHTD không an toàn. Các chương trình BKT sạch, chương trình giáo dục đồng đẳng đã triển khai ở một số nước là những can thiệp phù hợp đã đem lại hiệu quả khá rõ rệt đó là giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HIV. Các nhà nghiên cứu ước tính trên thế giới có khoảng 15.000 người NCMT và có khoảng 3.000 người NCMT nhiễm HIV/AIDS [28].
TCMT là một nguyên nhân quan trọng lây nhiễm HIV trên toàn Thế giới, với ước tính tỷ lệ hiện nhiễm cao ở Đông Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Bắc Mỹ, và nhiều phần của Châu Á [32], Hiện có hơn nữa triệu người NCMT ở khu vực Đông Nam Á. Phần lớn các nước trong khu vực có vấn đề TCMT đáng kể và một số nước đã báo cáo tỷ lệ nhiễm HIV trong những người TCMT rất cao đặc biệt là Indonesia, Myanma, Thái Lan và một số vùng của Ấn Độ. Trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm HIV trong những người TCMT trong khoảng 20 - 25% và vẫn còn tăng cao hơn. Hành vi nguy cơ cao trong những người NCMT, như là dùng chung dụng cụ tiêm chích là yếu tố chính trong quá trình lan truyền dịch HIV [35].
9 Các nhà khoa học đã có chung một quan điểm rằng ở những nơi mà tình hình ma tuý phát triển và có quan niệm dễ dãi về QHTD sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV. Lúc đầu số nhiễm HIV sẽ tập trung ở những người NCMT mà chủ yểu là nam giới, sau đó, do QHTD của những người này với PNMD mà không sử dụng BCS dẫn đến nhiễm HIV cho gái mại dâm. Tiếp đến từ gái mại dâm lây sang các đối tượng là khách làng chơi rồi cuối cùng là vợ, con của họ. Như vậy từ chỗ ban đầu HIV chỉ tập trung ở các đối tượng NCMT sau đó đã lan rộng khắp trong cộng đồng, người ta gọi đây là mô hình lan truyền qua 4 làn sóng liên tiếp [31].
Như vậy từ những năm đầu tiên HIV được phát hiện chỉ tập trung ở các đối tượng NCMT sau đó đã lan rộng khấp trong cộng đồng. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV càng cao trong nhóm NCMT, sự lây truyền HIV qua đường tình dục sẽ trở thành một yếu tổ quan trọng hơn. Sự lây truyền HIV qua đường tình dục sẽ càng khó kiểm soát hơn việc dùng chung dụng cụ tiêm chích [34]. Ở Đông Nam Á các can thiệp đã có tác động gia tăng nhận thức về các hoạt động giảm thiểu tác hại trên người NCMT, các hoạt động này được xem như là một cách can thiệp về sức khỏe cộng đồng để làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV và bảo vệ sức khỏe cho nhóm đối tượng này.
Tuy nhiên, độ bao phủ của các can thiệp giảm tác hại vẫn còn hạn chế nên chưa tác động đến việc giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm người NCMT ở khu vực Đông nam Á. Vì vậy, sự kết hợp của chương trình BKT với liệu pháp điều trị thay thế cho người NCMT sẽ tác động đến việc đạt được mục tiêu trên dễ dàng hơn [35]. De Jarlais và cộng sự trong một nghiên cứu năm 1996 đã so sánh tỷ lệ mới nhiễm HIV của những người NCMT có tham gia chương trình trao đổi BKT một cách đều đặn và liên tục với những người không tham gia chương trình này cho kết quả là những người không thực hiện trao đổi BKT có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn 3,35 lần [30], Những báo cáo nghiên cứu đã xác nhận rang chương trình BKT đã giảm đáng kê số ca nhiễm HIV. Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho thấy hiệu quả của chương trình BKT sạch có thể làm giảm nguy cơ nhiễm HIV do hành vi tiêm chích lên đến 10 74%.