MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các thành phần kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trong chương II, điều 16, 17 và 18 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: ”Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Trong điều kiện quỹ đất có hạn và nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi Nhà nước giao đất và thu hồi được cơ quan nhà nước quan tâm hơn.
Quá trình thực hiện công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, nhiều dự án đầu tư phát triển như: Khu di tích, khu thương mại, khu công nghiệp, các khu kinh tế mở, xây dựng đô thị, các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như: Giao thông, thuỷ lợi, văn hoá, thể thao đã và đang được triển khai đưa vào hoạt động trên hàng vạn héc ta đất. Việc thu hồi đất của đối tượng đang sử dụng là cần thiết để thực hiện các dự án đầu tư này. Do có tầm quan trọng như vậy nên thời gian qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đất đai và đề ra nhiều chủ trương, chính sách bằng các văn bản pháp luật cụ thể chỉ đạo việc tổ chức thực hiện. Sau khi có Luật Đất đai năm 1993, ngày 17/8/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 90/NĐ-CP quy định: ”Đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”.
Sau hơn 3 năm thực hiện có nhiều biến động, ngày 24/4/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/CP thay thế Nghị định số 90/NĐ-CP. Tiếp theo đó ngày 29/10/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 197/2004/NĐ-CP: “Về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”. Về cơ bản các điều trong Nghị định đã được áp dụng có hiệu quả, phù hợp với nguyện vọng của n 2 đa số nhân dân, khắc phục được nhiều tồn tại, vướng mắc mà trước đây các văn bản khác chưa được đề cập. Gần đây nhất là ngày 13/8/2009 Chính Phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Trên tổng thể, nghị định bổ sung nhiều điểm mới, tích cực, theo hướng tăng quyền lợi cho người bị thu hồi đất - đối tượng lâu nay được đánh giá là chịu nhiều thiệt thòi, như được bồi thường theo giá đất thực tế, tăng mức hỗ trợ… Tuy nhiên, còn nhiều nội dung cần phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học thông qua việc khảo sát thực tế, điều tra xã hội học để bổ sung, sửa đổi hoàn thiện chính sách này đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, người bị thu hồi đất, duy trì trật tự kỷ cương pháp luật, hạn chế tối đa những tranh chấp, khiếu kiện về đất đai của nhân dân trong bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài Nguyên Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS. Lương Văn Hinh em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án cải tạo, mở rộng nhà máy Phân đạm Hà Bắc trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang”. Mục đích, yêu cầu 1.
Mục đích - Điều tra đánh giá những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dự án cải tạo nhà máy phân đạm Hà Bắc trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. - Đề xuất các giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến độ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Yêu cầu - Nắm vững chính sách về bồi thường và giải phóng mặt bằng cũng như các văn bản đã liên quan đã ban hành. n 3 - Nguồn tài liệu, số liệu điều tra đều phản ánh trung thực khách quan về các chính sách bồi thường GPMB đã và đang thực hiện trên địa bàn nghiên cứu với độ tin cậy và chính xác.
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ và thực hiện các chính sách liên quan về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Ý nghĩa của đề tài: - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ sung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sau khi GPMB. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra được những thuận lợi, khó khăn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sau khi GPMB để từ đó rút ra những giải pháp khắc phục, giúp phần đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sau khi GPMB. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 2. Một số khái niệm liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư - Thu hồi đất: Là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này. - Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người bị thu hồi đất. - Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất ổn định đời sống, ổn định sản xuất thông qua các biện pháp: Đào tạo nghề mới, chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm, cấp kinh phí để di dời địa điểm mới.
- Tái định cư: Là việc bố trí một chỗ ở khác cho người có đất bị thu hồi mà không còn chỗ ở nào khác. - Giá đất: Là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. - Giá trị quyền sử dụng đất: Là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời gian sử dụng đất xác định. Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB Bồi thường, hỗ trợ và TĐC là yếu tố quyết định việc triển khai thực hiện các dự án, nó ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và là công việc phức tạp, khó khăn, nhạy cảm và mang tính xã hội cao cụ thể: - Tính phức tạp: + Chính sách Pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai của Chính phủ, các Bộ, ngành chậm ban hành, thiếu đồng bộ, nhiều nội dung thay đổi, bổ sung.
Các quy định về bồi thường GPMB ngày càng mở (Từ khi thực hiện Luật Đất đai 2003 đến nay Chính phủ đã ban hành 5 Nghị định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Nghị n 5 định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và rất nhiều văn bản hướng dẫn của các Bộ) gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và người dân có đất Nhà nước thu hồi trong quá trình thực hiện, người dân trông chờ chính sách sau có lợi hơn chính sách trước, quá trình thực hiện một số chính sách tạo ra sự thiếu công bằng trong công tác bồi thường GPMB giữa người chấp hành tốt và người không chấp hành đã gây ra thắc mắc, khiếu kiện, rất khó khăn trong quá trình giải quyết. [13] + Công tác quản lý đất đai ở các địa phương còn lỏng lẻo, việc thực hiện pháp luật đất đai trước đây không đồng bộ, khó mà căn cứ xác định được tính hợp lệ, hợp pháp, nguồn gốc quyền sử dụng đất. + Giá đất ở hầu hết các địa phương chưa phản ánh đúng giá đất thực tế trên thị trường “trong điều kiện bình thường”. - Tính xã hội: Việc thu hồi đất và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nó liên quan và tác động trực tiếp đến đời sống của người dân và ảnh hưởng đến hàng triệu lao động của địa phương nơi có đất thu hồi.
Hơn nữa, khi làm việc này luôn phải giải quyết đồng thời mối “quan hệ 3 bên” là Nhà nước - nhà đầu tư và người dân có đất bị thu hồi. Do vậy, khi thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải tính đến việc giải quyết việc làm, ổn định đời sống, ổn định sản xuất, bố trí chỗ ở cho người có đất bị thu hồi. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý 2. Cơ sở khoa học GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp.
Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội. GPMB đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và sớm thực hiện dự án và đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Ngược lại, làm chậm tiến độ thực hiện dự án, lãng phí thời gian, tăng chi phí, giảm hiệu quả dự án. n 6 Thực hiện GPMB tốt sẽ giảm chi phí, có điều kiện tập trung vốn cho mở rộng đầu tư.
Ngược lại, chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư. Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh nếu không đáp ứng được tiến độ đầu tư thì mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp. Đối với dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dài, tiến độ thi công bị ngắt quãng gây ra lãng phí và ảnh hưởng tới chất lượng công trình.