Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đối với sản xuất nông nghiệp.
Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày về chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày tổng quan về sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên. Phân tích tác động của tình trạng xâm nhập mặn đến sản xuất lúa của hộ gia đình các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên. Kết luận và kiến nghị giải pháp. Chương này trình bày những kết quả chính đạt được trong đề tài, các hàm ý giải pháp giúp hộ gia đình các xã ven biển trên địa bàn huyện An Biên cải thiện điều kiện sản xuất, lựa chọn mô hình phù hợp, góp phần nâng cao thu nhập của hộ gia đình.
123doc 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN 2. Khái niệm nông hộ Trên thế giới nhiều khái niệm về hộ nông dân: Ellis (1988) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao". Nhà nông học Nga - Traianốp (1925) cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định, là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp".
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (trích bởi Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015). Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". Tuy có nhiều quan niệm về nông hộ nhưng nhìn chung nông hộ là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước 123doc 6 nông nghiệp. Nông hộ bao gồm chủ yếu cha mẹ và con cái, có hộ còn có ông bà và cháu chắt. Hộ nông dân có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản.
Trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ nên ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế. Do đó, nông hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thể có được. Bản thân mỗi nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng, đơn vị tiêu dùng xét cả khía cạnh cho tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân Theo Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình.
Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động thị trường. Từ khái niệm trên, có thể thấy kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống. Mức độ phát triển của kinh tế hộ nông dân bao gồm kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa. Trong sản xuất nông nghiệp của nông dân, đất là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân, đời sống của học chủ yếu dựa vào đất sản xuất.
Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Mặt khác, trong sản xuất người dân sử dụng lao động gia đình là chính, thuê mướn thêm nhân công chỉ là nhu cầu tạm thời. Kinh tế hộ nông dân có quan hệ với thị trường, tuy nhiên mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường. Nếu tách họ ra khỏi thị trường thì họ vẫn tồn tại.
Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra với đầu vào được sử dụng. đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2007). Hoàng Hùng (2007) cho rằng hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra.
Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh. Khái niệm hiệu quả sản xuất Hiệu quả sản xuất là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt được kết quả tốt nhất. Để đạt được hiệu quả sản xuất thì người nông dân phải chú ý đến ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí; (2) sản xuất với chi phí thấp nhất; (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA HỘ TRỒNG LÚA 2.
Các yếu tố đầu vào 2. Điều kiện tự nhiên Trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015), cho thấy ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên trong sản xuất nông nghiệp bao gồm đất đai, khí hậu, nguồn nước. Đất đai: giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất.
Đất đai tham gia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành, lĩnh vực cụ thể, từng vị trí tọa lạc mà vai trò của đất đai có sự chênh lệch lớn về giá trị kinh tế cũng như điều kiện sản xuất kinh doanh. Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông, đất đai là sơ sở, nền móng để xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thông… thì ngược lại trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất và là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được 123doc 8 Điểm cơ bản cần đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể. Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất đai là không phù hợp cho loại cây trồng này nhưng lại là thuận lợi cho loại cây trồng khác phát triển. Đồng thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng của đất đai đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể.
Khí hậu: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất, thấp nhất hàng năm, hàng tháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng, lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sương muối, mưa đá, mưa trái mùa, tuyết rơi, sương mù v.v…đều phải được phân tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng của từng loại cây trồng cụ thể. Nguồn nước: trong lĩnh vực nông nghiệp, nước tưới được xem là yếu tố quan trọng. Việc tưới đúng phương pháp, kỹ thuật có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng (Lê Ngọc Báu, 1999). Để xây dựng một chế độ nước tưới hợp lý cần tính toán đến yêu cầu sinh lý của cây, điều kiện khí hậu thời tiết, lượng mưa từng vùng, đặc điểm của đất v.
Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội Mật độ dân cư, lao động ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu, sự phân bố, phát triển cây trồng, vật nuôi (là lực lượng lao động, tiêu thụ, quan trọng để phát triển nông nghiệp). Sở hữu ruộng đất: Nhiều, ít, lớn nhỏ anh hưởng đến đường lối phát triển, các hình thức tổ chức lãnh thổ để phát triển nông nghiệp. Tiến bộ khoa học kĩ thuật: Ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, sản lượng. Thị trường tiêu thụ: Ảnh hưởng đến giá cả, điều tiết sản xuất, hướng chuyên môn hóa.
Điều kiện kỹ thuật Cũng theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015), các điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp bao gồm giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật canh tác, công nghệ, vốn, lao động và phân bón. Giống cây trồng, vật nuôi: Các loại giống cây, con có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt cho phép tăng qui mô sản lượng hàng hoá. Các loại giống mới có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi; ổn định sản lượng sản phẩm hàng hoá. Kỹ thuật canh tác: Trình độ ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến cũng góp phần làm tăng năng suất cây trồng.
Hiện nước ta đã và đang đầu tư cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư các trung tâm nghiên cứu, hệ thống khuyến nông nên đã rút ngắn được thời gian chuyển tải kỹ thuật mới từ nơi nghiên cứu đến người nông dân. Công nghệ: Nghiên cứu, tham khảo các công trình ứng dụng khoa học công nghệ đi trước rút kinh nghiệm áp dụng phù hợp điều kiện kinh tế xã hội và tư nhiên của địa phương để sản xuất; công nghệ sau thu hoạch, bảo quản và chế biến sản phẩm được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động.