CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHI PHÍ GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TĂNG TRƯỞNG XANH 1. Những vấn đề chung về biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh 1. Biến đổi khí hậu: biểu hiện và nguyên nhân Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change - UNFCCC), “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài”. Các biểu hiện của BĐKH gồm: Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung; Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất; Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới ngập úng các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển; Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người; Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác; Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
Trên qui mô toàn cầu, BĐKH được thể hiện rõ nét nhất ở sự nóng lên của Trái đất, đặc biệt là từ sau năm 1950, và những thay đổi chưa từng có trong nhiều thập kỷ/ thiên niên kỷ. Trong 100 năm (1906 - 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,740C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Trong hơn 10 năm qua (tính từ năm 2001), nhiệt độ trung bình cao hơn 0,50C so với giai đoạn 1961 - 1990. Báo cáo năm 2013, 2014 và 2016 của Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đều nhận định: BĐKH diễn ra nhanh hơn so với dự báo.
Năm 2014 nhiệt độ bề mặt trái đất và mặt nước biển tăng lên hơn 0,370C so với năm 1979; năm 2017 được đánh giá là nắng nóng kỷ lục trong vòng 40 năm trở lại đây. Mực nước biển toàn cầu cũng dâng cao kỷ lục, đạt mức 3,17mm/năm thời kỳ 1993 - 2014, cao gấp đôi so với mức 1,6mm/năm của thế kỷ 20. Mực nước biển dâng nhanh nhất ở vùng phía tây Thái Bình Dương và phía đông Ấn Độ Dương. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu Khí nhà kính (KNK) là các khí gây ra hiệu ứng nhà kính - nguyên nhân dẫn đến BĐKH.
Các KNK có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ 9 từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bởi ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất. Hiệu ứng nhà kính của các KNK được đặc trưng bởi “tiềm năng gây nóng lên toàn cầu” (global warming potentials - GWPs) của một tấn KNK với một lượng CO2 tương đương (CO2tđ) trong khoảng thời gian xác định (thường là 100 năm). Các KNK chủ yếu bao gồm: CO2, N2O, CH4, HFC, PFC, SF6, hơi nước, các khí CFC. Có hai nhóm nguyên nhân gây ra BĐKH: Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) và nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người).
Nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển. Nhóm nguyên nhân chủ quan xuất phát từ sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và các KNK khác từ các hoạt động của con người như: CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí), từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép; CH4 sinh ra từ các bãi rác, chăn nuôi động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than; N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp; HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22; PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm; SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và quá trình sản xuất magie… Căn cứ theo nguồn gốc phát sinh, các nguồn phát thải KNK được chia thành 4 nhóm chính: năng lượng; quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU); nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU); và chất thải. Song song với những diễn biến nhanh hơn của BĐKH, những tác nhân của BĐKH cũng mạnh hơn. Báo cáo của IPCC năm 2014 đã chỉ ra rằng tổng lượng phát thải KNK trên phạm vi toàn cầu năm 2013 là hơn 50 tỷ tấn CO2tđ, đã vượt mức dự báo cho năm 2030, lớn hơn 15% so với dự báo cho năm 2020, bỏ xa mốc kịch bản dự báo xấu nhất đã được đưa ra.
Ứng phó với BĐKH Khi BĐKH là thách thức thực sự cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai, thì công tác ứng phó với BĐKH được đánh giá là hoạt động ưu tiên của bất kỳ địa phương, quốc gia, lãnh thổ nào trên thế giới. UNFCCC đã xác định: ứng phó với BĐKH bao gồm hai mảng là “giảm nhẹ” (mitigation) và “thích ứng” (adaptation). Giảm nhẹ BĐKH: bao gồm những sự can thiệp mang tính phòng ngừa của con người để giảm nguyên nhân gây ra BĐKH, như tăng bể hấp thụ, bể chứa KNK, giảm mức độ hoặc cường độ phát thải KNK (giảm phát thải KNK); 10 Thích ứng BĐKH: bao gồm những điều chỉnh hệ thống tự nhiên hay con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do các tác động của BĐKH và tận dụng các cơ hội thuận lợi mà BĐKH mang lại. Theo các nhà khoa học thuộc Uỷ ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), để có thể đạt mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ Trái Đất dưới 20C vào cuối thế kỷ này, lượng phát thải KNK phải giảm từ 40 đến 70% vào năm 2050.
Như vậy, bên cạnh nỗ lực chống chịu và thích ứng với BĐKH, điều quan trọng là loài người cần tăng cường các biện pháp phòng ngừa, giảm phát thải KNK nhằm giảm nhẹ BĐKH. Các quốc gia trên thế giới đã có những nỗ lực trong việc ứng phó với BĐKH. Bắt đầu từ năm 1992, nguyên thủ các quốc gia đến từ hơn 150 nước - trong đó có Việt Nam, đã ký Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH (UNFCCC). Mục tiêu của Công ước là nhằm đạt được sự ổn định nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu.
Công ước có hiệu lực ngày 21/3/1994. Đến tháng 12 năm 2009 Công ước đã có 192 bên tham gia. Thoả thuận Pa-ri được thông qua tại Hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 21 (COP21) diễn ra tại Pa-ri, Pháp vào tháng 12 năm 2015 đã quy định các biện pháp về bảo vệ khí hậu nhằm giữ mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong phạm vi 1,5 - 2 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Mới đây nhất, Hội nghị lần thứ 23 của UNFCCC (COP23) diễn ra tại Bonn, Đức, vào tháng 11/2017, đại diện gần 200 quốc gia đã nhất trí về việc giữ vững cam kết đối với Thỏa thuận Pa-ri năm 2015 và khởi động một tiến trình nhằm xem xét lại các kế hoạch giảm phát thải KNK.
Phát thải và giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ 1994 đến 2010, tổng phát thải KNK của tất cả các lĩnh vực (bao gồm cả lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp - LULUCF) tăng nhanh từ 103,8 triệu tấn CO2tđ lên 246,8 triệu tấn CO2tđ. Hai lĩnh vực hiện có tỷ trọng phát thải lớn nhất là nông nghiệp và năng lượng. Phát thải trong lĩnh vực năng lượng tăng nhanh nhất. Phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp tăng chậm.
Riêng lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) đã chuyển dần từ phát thải sang hấp thụ KNK. Phát thải/ hấp thụ KNK tại Việt Nam qua các năm theo lĩnh vực Đơn vị: nghìn tấn CO2tđ, % Năm 1994 2000 2005 2010 Lĩnh vực CO2tđ % CO2tđ % CO2tđ % CO2tđ % Năng lượng 25.830,65 100 Nguồn: Thông báo quốc gia lần thứ nhất và lần thứ hai của Việt Nam cho UNFCCC (năm 2003, 2010) và Dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê quốc gia KNK tại Việt Nam (năm 2014) Là một trong những quốc gia có nguy cơ bị tác động mạnh mẽ nhất bởi BĐKH, Việt Nam đã tích cực tham gia vào nỗ lực giảm phát thải KNK toàn cầu. Tại COP21 và COP23, Việt Nam đã cam kết tham gia thực hiện Thỏa thuận Pari với mức cam kết giảm nhẹ phát thải KNK một cách tự nguyện ở mức 8%, và nếu có sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế (giảm nhẹ phát thải có điều kiện hỗ trợ quốc tế) sẽ tăng mức cam kết giảm đến 25% mức phát thải của Việt Nam vào năm 2030. Xu hướng tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 và BĐKH, yêu cầu cấu trúc lại nền kinh tế, hướng tới xây dựng một nền kinh tế “tăng trưởng xanh và ít phát thải các-bon” đang là vấn đề được quan tâm trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tăng trưởng xanh (TTX) là một nội dung của phát triển bền vững (PTBV), là phương thức phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần giảm nhẹ và phòng chống tác động của BĐKH. TTX dựa trên việc tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải KNK, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.