CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo khoản 14, điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2018, Cấp tín dụng được giải thích như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Như vậy, nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, có thể định nghĩa: Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Vai trò của tín dụng ngân hàng Để thực hiện mục tiêu mở rộng sản xuất ở từng doanh nghiệp, yêu cầu về nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Bởi lẽ, đẩy mạnh tiến độ phát triển sản xuất không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà doanh nghiệp còn phải biết tận dụng các nguồn vốn khác trong xã hội. Từ đó, tín dụng ngân hàng với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển.
Như vậy, tín dụng ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tích lũy vốn cho nền kinh tế. a) Giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa nhà đầu tư và nhà tiết kiệm Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM. Để thực hiện quá trình kinh doanh tín dụng, ngân hàng phải có nguồn vốn và trên cơ sở đó đáp ứng nhu 6 cầu vốn ngày càng tăng của nền kinh tế. Có thể nói, NHTM là một trung gian tài chính, vận chuyển vốn từ những người có nguồn vốn nhàn rỗi đến những người có nhu cầu về vốn.
Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Nó là động lực kích thích tiết kiệm, đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển. Thông qua tín dụng ngân hàng, tiền nhàn rỗi phân tán khắp mọi nơi có thể là của các doanh nghiệp, dân cư sẽ được tập trung lại và đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Có như vậy, vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường mới có điều kiện mang đầy đủ nội dung kinh tế của phạm trù “tư bản” tức là với một đồng vốn bỏ ra, khi quay trở lại sẽ lớn hơn giá trị ban đầu.
b) Tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn Trong điều kiện nước ta nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu cần thiết cho xã hội, là ngành chịu tác động nhiều nhất của quá trình tự nhiên và là ngành đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vì vậy, trong giai đoạn trước mắt, nhà nước cần tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồng thời tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, nhà nước cần tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, nhằm tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành kinh tế khác. c) Thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp Đặc trưng cơ bản của tín dụng là hoạt động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức.
Vì vậy, hoạt động của tín dụng đã góp phần kích thích sử dụng vốn vay có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì các doanh nghiệp phải tôn trọng hoạt động tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay theo đúng thời hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để nâng cao doanh lợi doanh nghiệp. d) Thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế quốc tế Trong điều kiện nền kinh tế mở, tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện kết nối nền kinh tế các nước với nhau.
7 Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng. Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá tình này. Tuy nhiên, nếu chỉ một tổ chức kinh tế, một cá nhân thực hiên thì không thể có đủ vốn. Vì vậy, ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông quan hoạt động tín dụng ngân hàng sẽ cấp vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa.
Từ đó đẩy mạnh kinh tế xuất nhập khẩu, góp phần phát triển mối quan hệ giao thương kinh tế với các nước. Phân loại tín dụng a) Căn cứ vào thời hạn cho vay - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng. Loại tín dụng này thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
Hình thức tín dụng này được sử dụng cho vay đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án ới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Hình thức tín dụng này thường được sử dụng để cho vay vào mục đích đầu tư hình thành mới tài sản cố định và thời hạn thu hồi vốn dài. b) Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ - Tín dụng tín chấp: là hình thức tín dụng mà việc cho vay dựa trên lòng tin và tình hình tài chính của người vay, lợi tức dự tính trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây.
Ngân hàng thường áp dụng hình thức này với một số khách hàng quen thuộc. - Tín dụng thế chấp: là hình thức tín dụng mà việc cho vay dựa trên các tài sản bảo đảm của khách hàng hoặc có một người thứ ba đứng ra bảo lãnh cho khoản tín dụng. Thông thường những tài sản bảo đảm là bất động sản hoặc động sản như: giấy tờ có giá, trang thiết bị…dễ dàng chuyển nhượng. c) Căn cứ vào mục đích sử dụng - Tín dụng sản xuất và kinh doanh hàng hóa: là hình thức cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất và kinh doanh 8 hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cấp phát tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình nhằm giải quyết các nhu cầu về vốn phục vụ cho mục đích tiêu dùng như: mua sắm nhà ở, xe máy, ô tô, tivi… d) Căn cứ vào phương pháp hoàn trả - Tín dụng trả góp: việc hoàn trả khoản vay được tiến hành theo định kỳ (có thể theo tháng, quý, năm hoặc nửa năm). Các khoản này có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau tùy theo thỏa thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. - Tín dụng phi trả góp: việc hoàn trả khoản vay được tiến hành một lần vào thời điểm xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể hoàn trả theo thỏa thuận. e) Căn cứ vào nguồn gốc tín dụng - Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho người vay và người vay trực tiếp thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay đối với ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ từ khách hàng. Tổng quan về tín dụng cá nhân 1. Khái niệm về tín dụng cá nhân Một trong những vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng nói chung là giải quyết mâu thuẫn giữa nhà đầu tư và nhà tiết kiệm. Tuy nhiên, xét ở một góc độ hẹp hơn, đó là sự cân bằng giữa nhu cầu cần được đáp ứng và giới hạn tài chính, vì vậy mà ra đời hình thức tín dụng cá nhân.
Tín dụng cá nhân là một loại hình tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Đặc điểm của tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân là một loại hình tín dụng, vì vậy nó mang đầy đủ các đặc 9 điểm của tín dụng nói chung. Bên cạnh đó, nó còn mang các đặc trưng sau: Thứ nhất, Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao. Trên thực tế, dù là giá trị khoản vay lớn hay nhỏ thì để tạo lập được một khoản vay mới cho đến bước cuối cùng là giải ngân, các cán bộ tín dụng vẫn phải tuân thủ thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng.
Điều đó sẽ làm cho chi phí quản lý đối với một khoản vay cá nhân tương đương với chi phí quản lý đối với một khoản vay doanh nghiệp. Như vậy, chi phí tổ chức cho vay trên một đồng vốn cấp ra cho khách hàng cá nhân thường cao hơn khách hàng doanh nghiệp hay lãi suất cho vay đối với cá nhân thường cao hơn lãi suất cho vay doanh nghiệp.