ĐẶT VẤN ĐỀ Cuộc sống trên trái đất bắt nguồn từ trong nƣớc. Tất cả các sự sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nƣớc trong vòng tuần hoàn nƣớc, Nƣớc có ảnh hƣởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Nƣớc ở tại Việt Nam chúng ta rất phong phú và đa dạng gồm các loại nƣớc mặt nƣớc ngầm ở các lƣu vực tự nhiên và nhân tạo đƣợc con ngƣời tạo ra nhƣ hồ, đập. Con nguời và mọi sự sống trên trái đất đều cần đến nƣớc để có thể duy trì đƣợc sự sống trong cơ thể, nƣớc còn đƣợc con ngƣời dùng trong sinh hoạt, sản xuất và là một thành phần không thể thiếu.
Việt Nam có tài nguyên nƣớc vào loại trung bình trên thế giới với giá trị trung bình đầu ngƣời khoảng 5.000m3 năm, tức là cao hơn không đáng kể so với giá trị trung bình của 27 quốc gia vùng Châu Á - Thái Bình Dƣơng khoảng 4. Trong tổng số nƣớc sử dụng thì hơn 70% phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với mục đích tƣới tiêu ( theo chiến l ợc quốc gia về tài nguyên n ớc – Viện khoa học pháp lý ) Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc diễn ra nhanh thì quá trình đô thị hoá và sự gia tăng dân số không ngừng kéo theo làm nhu cầu sử dụng nƣớc của con ngƣời ngày càng tăng. Lƣợng nƣớc thải không đƣợc xử lý trƣớc khi thải ra môi trƣờng ngày càng nhiều làm cho chất lƣợng nƣớc ở các thủy vực này bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí nhiều thủy vực từ chức năng tiêu cấp nƣớc tƣới đã trở thành nơi chứa nƣớc thải từ chính những hoạt động của con ngƣời. Việt Nam có khoảng 2360 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính.
Trong số này có 9 con sông lớn là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang-Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia-Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long và bốn nhánh sông là sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông SrêPok đã tạo nên một lƣu vực trên 10.000 km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lƣới sông ngòi Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay chất lƣợng nƣớc của các lƣu vực này đang bị suy giảm nghiêm trọng ( theo Wikipedia ) 1 Sông Bƣởi là dòng sông bắt nguồn từ tỉnh Hòa bình, nó đƣợc tạo thành bởi hai dòng chảy từ huyện Mai Châu và huyện Tân Lạc, hai nhánh sông nhỏ này nằm ở vùng phía nam hồ Hồ Hòa Bình và hai nhánh này hợp lại thành dòng sông bƣởi chảy qua các huyện phía bắc tỉnh thanh hóa nhƣ Cẩm Thủy, Thạch Thành rồi chảy xuống Huyện Vĩnh Lộc qua xã Vĩnh Hòa và hòa làm phụ lƣu của dòng sông Mã. Sông bƣởi với tổng chiều dài 130 km. Diện tích lƣu vực 1.790 km², độ cao trung bình 247 m, độ dốc trung bình 12,2%, mật độ sông suối 0,59 km/km².
Tổng lƣợng nƣớc 1,65 km³, tƣơng ứng với lƣu lƣợng bình quân 52,2 m³/s và môđun dòng chảy năm 27,7 l s. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 80,4% lƣợng nƣớc cả năm, lớn nhất vào tháng 9-10 (chiếm 27,9% lƣợng dòng chảy cả năm. Với sự phát triển hiện nay của khu vực cuối sông Bƣởi là xã Vĩnh Hòa, từ một khu vực thƣa dân từ những năm đầu thế kỷ 21 khu vực đƣợc quy hoạch và phát triển thành khu nông thôn mới, dân số ngày một gia tăng đến mức chóng mặt và kéo theo hệ lụy ô nhiễm môi trƣờng ô nhiễm các dòng nƣớc từ chất thải sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất của ngƣời dân. Vì không muốn dòng sông quê mình bị ô nhiễm và vấy bẩn theo thời gian nên tôi đã thực hiện đề tài “ Đánh giá chất lƣợng sông Bƣởi đoạn chảy qua xã Vĩnh Hòa – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa ” để có thể đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc sông quê mình và từ đó đƣa ra những giải pháp đề xuất lên cho các ban ngành và tuyên truyền cho ngƣời dân để cải thiện chất lƣợng nƣớc của dòng sông đã từng gắn bó với tuổi thơ của tôi.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hiện trạng tài nguyên nƣớc 1.1 Trên thế giới Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nƣớc tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nƣớc quốc tế SIWI đƣợc công bố tại Tuần lễ Nƣớc thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển. Thực tế trên khiến nguồn nƣớc dùng trong sinh hoạt của con ngƣời bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nƣớc đang phát triển là do không đƣợc tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nƣớc) và các bệnh liên quan đến nƣớc.Thiếu vệ sinh và thiếu nƣớc sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lƣơng Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ ngƣời phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nƣớc và 2 3 cƣ dân trên hành tinh có thể bị thiếu nƣớc.
Theo ƣớc tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chƣa đƣợc sử dụng nƣớc sạch và khoảng 20 triệu 59% chƣa có nhà tiêu hợp vệ sinh. Hiện có tới 10% trẻ em ở thành phố không có nhà tiêu. Con số này ở nông thôn là 40%. Thiếu nƣớc sạch và vệ sinh ảnh hƣởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng).
Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lƣợng nƣớc ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em. Tình trạng ô nhiếm a-sen (thạch tín và flo fluoride trong nƣớc ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu ngƣời dân trong khu vực. Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nƣớc bẩn gây ra đã ảnh hƣởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em.Hàng ngày có rất nhiều em ở các nƣớc đang phát triển không đƣợc đến 3 trƣờng vì bị các bệnh nhƣ tiêu chảy, nhiễm trùng đƣờng ruột. Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trƣờng đi học nếu không có công trình nƣớc và vệ sinh riêng biệt cho các em.
Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nƣớc tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nƣớc sạch.Theo đó, trẻ em là ngƣời phải trả giá cao nhất khi không đƣợc sử dụng nƣớc sạch.Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dƣới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày. Ô nhiễm nƣớc đang ngày càng nghiêm trọng do nền kinh tế của các nƣớc đang phát triển mà môi trƣờng lại không chịu tải sức ép của các nền kinh tế. Theo dự đoán của một số nhà khoa học thì đến năm 2020 những tác động do môi trƣờng ô nhiễm sẽ tăng mạnh, trong đó3 4 số khu vực đánh giá sẽ đánh giá đƣợc sự tác động các nguồn nƣớc quốc tế trên toàn cầu. Khoảng 1/4 khu vực nghiên cứu cho thấy các chất lơ lửng có trong nƣớc tăng cao.
Bao gồm các khu vực biển Caribbean, khu vực Đông Nam Á, Đông Phi, Brazil, hồ Rift Valley Hình 1.1: Phân bố nguồn nƣớc trên Trái đất 4 1.2 Tại Việt Nam Giống nhƣ một số nƣớc trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Thực trạng ô nhiễm nƣớc mặt : Hiện nay chất lƣợng nƣớc ở vùng thƣợng lƣu các con song chính còn khá tốt. Tuy nhiên ở các vùng hạ lƣu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề. Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lƣợng nƣớc đổ về các con sông giảm.
Chất lƣợng nƣớc suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu nhƣ : BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ô nhiễm nƣớc mặt khu đô thị: các con sông chính ở Việt Nam đều đã bị ô nhiễm. Ví dụ nhƣ sông Thị Vải, là con song ô nhiễm nặng nhất trong hệ thống song Đồng Nai, có một đoạn song chết dài trên 10km. Giá trị đo thƣờng xuyên dƣới 0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan ( 0.04 mg/l) Với giá trị gần bằng 0 nhƣ vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống.
Thực trạng ô nhiễm nƣớc dƣới đất: Hiện nay nguồn nƣớc dƣới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhƣ bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nƣớc dƣới đất bị hạ thấp. Hiện tƣợng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng song Cửu Long. Khai thác nƣớc quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tƣợng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Nƣớc dƣới đất bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách.
Thực trạng ô nhiễm nƣớc biển: Nƣớc biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng đồng bằng song Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit, colifom ( chủ yếu là đồng bằng song Cửu Long), dầu và kim loại kẽm… Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn nhƣ Hà Nội và TP HCM, nơi có dân cƣ đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm. Phần lớn lƣợng nƣớc thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác đƣợc thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 nhƣng chỉ có 10% đƣợc xử lý đều không đƣợc xử lý, mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Kông. 5 Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất nhƣ các lò mổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000 m3 mỗi ngày, chỉ 30% là đƣợc xử lý cũng không đƣợc trang bị hệ thống xử lý nƣớc thải. Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lƣu ý là hệ thống hồ trong công viên Yên Sở.
Đây đƣợc coi là thùng chứa nƣớc thải của Hà Nội với hơn 50% lƣợng nƣớc thải của thành phố.