Đánh giá chất lượng nước sông bưởi đoạn chảy qua xã vĩnh hòa huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa

Đánh giá chất lượng nước sông Bưởi đoạn qua xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Phân tích hiện trạng, nguyên nhân ô nhiễm và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Hiện trạng tài nguyên nước

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Tại Việt Nam

1.2. Hiện trạng chất lượng nước mặt tại tỉnh Thanh Hóa

1.3. Ô nhiễm nước và phương pháp đánh giá chất lượng nước

1.3.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước

1.3.2. Đánh giá chất lượng nước bằng phương pháp WQI

1.4. Tình hình quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam

1.4.1. Hệ sống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật

1.4.2. Hệ thống tổ chức và phân công trách nhiệm quản lý môi trường nước

1.4.3. Công tác thanh tra, kiểm tra và quan trắc môi trường nước

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – ĐỐI TƯỢNG – PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp

2.4.3. Phương pháp phỏng vấn

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu nước

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.2. Điều kiện kinh tế xã hội

3.2.1. Dân số , lao động, việc làm

3.2.2. Đặc điểm kinh tế

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Khảo sát nguồn gây ảnh hưởng tới nước sông và thực trạng sử dụng nước sông

4.1.1. Khảo sát nguồn gây ảnh hưởng tới nước sông

4.1.2. Thực trạng sử dụng nước sông

4.2. Đánh giá chất lượng nước sông tại khu vực nghiên cứu

4.2.1. Đánh giá chất lượng nước sông tại khu vực nghiên cứu theo QCVN 08:2008/BTNMT

4.2.2. Đánh giá đặc điểm chất lượng nước sông tại khu vực nghiên cứu theo chỉ số WQI

4.3. Đề xuất giải pháp cải thiện nước sông tại khu vực nghiên cứu

4.3.1. Giải pháp về cơ chế chính sách

4.3.2. Giải pháp về quan trắc và thông tin môi trường

4.3.3. Giải pháp về giáo dục đào tạo, nâng cao nhận thức cộng đồng

4.4. Giải pháp công nghệ

4.4.1. Sơ đồ mô hình sử lý nước sông thành nước sinh hoạt

4.4.2. Vai trò, tiềm năng, ưu - nhược điểm của mô hình xử lý nước sông Bưởi thành nước sinh hoạt trên địa bàn xã Vĩnh Hòa

4.4.3. Hệ thống thu gom và sử lý nước qua sử dụng của mô hình sử lý nước sông Bưởi thành nước sinh hoạt

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng nước sông Bưởi tại xã Vĩnh Hòa

Sông Bưởi là một nhánh quan trọng của hệ thống sông Mã, đóng vai trò thiết yếu trong đời sống và sản xuất của người dân xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Nguồn nước từ con sông này không chỉ phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp mà còn là một phần không thể thiếu của hệ sinh thái sông Bưởi, duy trì đa dạng sinh học và cân bằng môi trường khu vực. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi và sinh hoạt, chất lượng nước sông đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc đánh giá chất lượng nước sông Bưởi trở thành một nhiệm vụ cấp bách để hiểu rõ thực trạng và đề ra các giải pháp bảo vệ kịp thời. Nghiên cứu khoa học dựa trên các tài liệu như khóa luận tốt nghiệp của trường Đại học Lâm Nghiệp đã cung cấp những dữ liệu nền tảng quan trọng. Các phân tích tập trung vào những thông số trong nước sông (pH, DO, COD, BOD, Amoni) và sử dụng các phương pháp hiện đại như tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) sông Bưởi. Những kết quả này không chỉ phản ánh mức độ an toàn của nguồn nước mà còn là cơ sở để các cơ quan chức năng, như Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, xây dựng kế hoạch hành động. Hiểu rõ hiện trạng là bước đầu tiên để đảm bảo sự phát triển bền vững, hài hòa giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ nguồn tài nguyên nước quý giá cho các thế hệ tương lai tại Vĩnh Lộc.

1.1. Vai trò của sông Bưởi đối với nông nghiệp xã Vĩnh Hòa

Sông Bưởi cung cấp nguồn nước tưới tiêu chủ yếu cho các hoạt động nông nghiệp tại Vĩnh Hòa. Các bãi bồi ven sông được bồi đắp phù sa màu mỡ, là điều kiện lý tưởng để canh tác các loại cây hoa màu như ngô, khoai, sắn. Nguồn nước dồi dào từ sông giúp duy trì năng suất cây trồng, đặc biệt trong các mùa khô hạn. Hoạt động nuôi trồng thủy sản, với các mô hình bè cá trên sông, cũng phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và lưu lượng nước. Do đó, bất kỳ sự suy giảm nào về chất lượng nước đều có thể ảnh hưởng đến nông nghiệp xã Vĩnh Hòa, làm giảm sản lượng và tác động tiêu cực đến kinh tế của người dân địa phương.

1.2. Hiện trạng môi trường Vĩnh Lộc và các áp lực

Xã Vĩnh Hòa, cũng như toàn huyện Vĩnh Lộc, đang trong quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng. Sự gia tăng dân số, mở rộng các trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ và sự hình thành các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã tạo ra áp lực lớn lên môi trường. Hiện trạng môi trường Vĩnh Lộc cho thấy lượng rác thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi chưa qua xử lý được xả trực tiếp ra môi trường ngày càng tăng. Các hoạt động khai thác cát trên sông cũng góp phần làm thay đổi dòng chảy và gia tăng độ đục của nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh.

II. Cảnh báo thực trạng ô nhiễm nguồn nước sông Bưởi

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Bưởi đang ở mức đáng báo động, đặc biệt tại đoạn chảy qua xã Vĩnh Hòa. Các kết quả quan trắc cho thấy nhiều chỉ số hóa học đã vượt ngưỡng cho phép theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08:2008/BTNMT). Nguyên nhân chính xuất phát từ các hoạt động của con người. Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư ven sông, nước thải từ các trang trại chăn nuôi không được xử lý đúng cách đã đổ thẳng ra sông. Thêm vào đó, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp khiến các hóa chất độc hại ngấm vào đất và bị rửa trôi xuống sông sau mỗi trận mưa. Những nguyên nhân ô nhiễm sông Bưởi này đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước, biến một số đoạn sông thành nơi tiếp nhận chất thải. Hậu quả là sự thay đổi màu sắc và mùi của nước, gây ra các hiện tượng như cá chết trên sông Bưởi vào một số thời điểm, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Tình trạng này đòi hỏi phải có sự can thiệp mạnh mẽ từ các cơ quan quản lý và sự chung tay của cộng đồng để ngăn chặn đà suy thoái của dòng sông.

2.1. Nguồn thải từ sinh hoạt và chăn nuôi tại Vĩnh Hòa

Qua khảo sát thực địa, có thể xác định rõ các nguồn thải chính. Dọc bờ sông Bưởi tại xã Vĩnh Hòa tồn tại nhiều cống xả trực tiếp. Kết quả phân tích mẫu nước từ các cống này cho thấy nồng độ Amoni (N-NH4+) và Phosphat (P-PO43-) rất cao, vượt tiêu chuẩn nhiều lần. Nước thải từ các hoạt động xịt rửa chuồng trại chăn nuôi lợn, dù quy mô nhỏ, nhưng với mật độ dày đặc cũng là một nguồn gây ô nhiễm hữu cơ đáng kể. Rác thải sinh hoạt, bao gồm túi nilon và bao bì hóa chất, cũng được người dân vứt bừa bãi xuống bờ sông, gây ô nhiễm cục bộ và làm mất mỹ quan.

2.2. Vấn đề nhà máy xả thải ra sông Bưởi từ thượng nguồn

Ngoài các nguồn thải tại chỗ, chất lượng nước sông Bưởi còn chịu ảnh hưởng từ các hoạt động ở khu vực thượng nguồn. Thông tin từ người dân và các báo cáo cho thấy có khả năng một số nhà máy xả thải ra sông Bưởi ở các huyện phía trên như Cẩm Thủy, Thạch Thành. Các loại nước thải công nghiệp Thanh Hóa thường chứa các chất ô nhiễm phức tạp và khó phân hủy, có thể là nguyên nhân gây ra các đợt ô nhiễm đột biến. Việc kiểm soát các nguồn thải liên tỉnh này là một thách thức lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương và sự giám sát nghiêm ngặt từ cơ quan chức năng.

III. Phương pháp đánh giá chất lượng nước sông Bưởi khoa học

Để có cái nhìn khách quan và chính xác về mức độ ô nhiễm, công tác quan trắc môi trường nước sông Bưởi được tiến hành một cách bài bản và khoa học. Phương pháp nghiên cứu bao gồm nhiều bước, từ khảo sát thực địa để xác định các điểm nóng ô nhiễm, đến lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm. Các mẫu nước được thu thập tại nhiều vị trí khác nhau dọc sông và tại các điểm xả thải đáng ngờ để có sự so sánh, đối chứng. Quá trình phân tích tập trung vào các thông số vật lý và hóa học quan trọng như pH, oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu oxy hóa học (COD), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Amoni (N-NH4+) và Phosphat (P-PO43-). Đặc biệt, nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) sông Bưởi. Đây là một công cụ hiệu quả giúp tổng hợp nhiều thông số phức tạp thành một con số duy nhất, dễ hiểu, cho phép phân loại và đánh giá chất lượng nước theo các thang bậc khác nhau, từ 'rất tốt' đến 'ô nhiễm nặng'. Phương pháp này tuân thủ theo hướng dẫn của Tổng cục Môi trường, đảm bảo tính nhất quán và độ tin cậy của kết quả đánh giá.

3.1. Quy trình lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu trong nước

Việc lấy mẫu được thực hiện theo TCVN 5996:1995, đảm bảo tính đại diện cho chất lượng nước tại điểm quan trắc. Các mẫu được bảo quản lạnh trong thùng xốp và vận chuyển nhanh chóng về phòng thí nghiệm. Tại đây, các chỉ tiêu được phân tích theo các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành: pH (TCVN 6492-1999), COD (TCVN 6491-1999), BOD5 (TCVN 6001-1995), và các phương pháp trắc quang để xác định nồng độ Amoni và Phosphat. Quá trình phân tích được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo độ chính xác của số liệu.

3.2. Cách tính chỉ số WQI theo hướng dẫn của Bộ TNMT

Chỉ số WQI được tính toán dựa trên kết quả phân tích của các thông số chính. Mỗi thông số sẽ được chuyển đổi thành một điểm số (qi) dựa trên các đường cong chất lượng đã được xây dựng sẵn. Sau đó, các điểm số này được tổng hợp lại theo một công thức có trọng số để ra được giá trị WQI cuối cùng. Công thức này do Tổng cục Môi trường ban hành theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT, giúp chuẩn hóa cách đánh giá chất lượng nước trên toàn quốc. Kết quả WQI sau đó được so sánh với bảng phân loại để xác định mức độ ô nhiễm và mục đích sử dụng phù hợp của nguồn nước.

IV. Kết quả phân tích chi tiết chất lượng nước sông Bưởi

Kết quả phân tích từ các đợt lấy mẫu đã vẽ nên một bức tranh chi tiết về chất lượng nước sông Bưởi đoạn qua Vĩnh Hòa. Một số chỉ tiêu cơ bản vẫn nằm trong ngưỡng an toàn. Cụ thể, giá trị pH dao động trong khoảng trung tính, hàm lượng oxy hòa tan (DO) và nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) đều thỏa mãn yêu cầu của QCVN 08:2008/BTNMT cột B1, cho thấy khả năng tự làm sạch của sông đối với ô nhiễm hữu cơ vẫn còn. Tuy nhiên, các chỉ tiêu cảnh báo ô nhiễm hóa học lại cho thấy những con số đáng lo ngại. Nồng độ COD, Amoni (N-NH4+) và Phosphat (P-PO43-) ở hầu hết các vị trí lấy mẫu đều vượt xa tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, theo tài liệu nghiên cứu, hàm lượng Amoni và Phosphat cao gấp nhiều lần so với quy chuẩn, có nơi lên tới 30 – 50 lần. Điều này là bằng chứng rõ ràng cho thấy sông Bưởi đang phải gánh chịu một lượng lớn chất thải từ hoạt động sinh hoạt và chăn nuôi. Các kết quả này đã được ghi nhận trong các báo cáo môi trường tỉnh Thanh Hóa, nhấn mạnh sự cấp bách của các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tại lưu vực sông.

4.1. Phân tích các thông số trong nước sông pH DO COD BOD

Kết quả cho thấy pH (7.6 - 8.1) và DO (>4.3 mg/l) đều đạt chuẩn, chứng tỏ môi trường nước chưa bị axit hóa và vẫn đủ oxy cho sinh vật thủy sinh. Chỉ số BOD5 cũng nằm trong giới hạn cho phép (<15 mg/l), cho thấy lượng chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học không quá cao. Tuy nhiên, chỉ số COD lại vượt ngưỡng (có mẫu cao gấp 3-6 lần tiêu chuẩn), chỉ ra sự tồn tại của các chất hữu cơ khó phân hủy, có thể bắt nguồn từ hóa chất nông nghiệp hoặc nước thải công nghiệp.

4.2. Mức độ ô nhiễm Amoni và Phosphat đáng báo động

Đây là hai chỉ số đáng báo động nhất. Nồng độ Amoni và Phosphat cao là dấu hiệu đặc trưng của ô nhiễm do nước thải sinh hoạt và phân bón. Mức độ vượt chuẩn lên đến hàng chục lần không chỉ gây hại trực tiếp cho cá và các loài thủy sinh khác mà còn thúc đẩy hiện tượng phú dưỡng, làm bùng nổ sự phát triển của tảo độc, gây suy giảm oxy hòa tan vào ban đêm và làm nước có mùi hôi thối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái sông Bưởi.

V. Tác động của ô nhiễm nước sông Bưởi đến sức khỏe

Vậy, nước sông Bưởi có an toàn không? Dựa trên các kết quả phân tích, câu trả lời là không an toàn cho nhiều mục đích. Mặc dù người dân chủ yếu sử dụng nước sông cho tưới tiêu, nhưng việc tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ô nhiễm cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các tác động của ô nhiễm nước đến sức khỏe là không thể xem nhẹ. Nồng độ Amoni cao trong nước có thể chuyển hóa thành Nitrit và Nitrat, những chất có khả năng gây bệnh, đặc biệt là hội chứng 'trẻ xanh' ở trẻ em và nguy cơ ung thư khi tích tụ lâu dài. Nguồn nước ô nhiễm cũng là môi trường lý tưởng cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường tiêu hóa, da liễu cho những người thường xuyên tiếp xúc. Đối với sản xuất, việc dùng nước ô nhiễm để tưới tiêu có thể làm tích tụ các chất độc hại trong đất và nông sản, ảnh hưởng đến nông nghiệp xã Vĩnh Hòa không chỉ về năng suất mà còn về chất lượng và an toàn thực phẩm. Về lâu dài, sự suy thoái của dòng sông sẽ phá vỡ cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến sinh kế và chất lượng cuộc sống của cả cộng đồng.

5.1. Rủi ro sức khỏe cộng đồng từ nguồn nước ô nhiễm

Việc sử dụng nguồn nước có chứa Amoni và các hợp chất hữu cơ vượt ngưỡng có thể gây ra nhiều bệnh mãn tính. Các kim loại nặng (dù chưa được phân tích trong nghiên cứu này nhưng thường đi kèm với ô nhiễm công nghiệp) có thể tích tụ trong cơ thể, gây tổn thương hệ thần kinh, gan và thận. Trẻ em và người già là những đối tượng nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng nhất bởi chất lượng nước suy giảm.

5.2. Thiệt hại kinh tế đối với hoạt động nông nghiệp thủy sản

Nước ô nhiễm làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi và thủy sản. Hiện tượng cá chết trên sông Bưởi là một thiệt hại kinh tế trực tiếp và rõ ràng nhất đối với các hộ nuôi cá lồng bè. Đối với trồng trọt, nước tưới kém chất lượng có thể làm cây còi cọc, dễ nhiễm bệnh, giảm giá trị thương phẩm của nông sản. Chi phí để xử lý, cải tạo đất và nguồn nước bị ô nhiễm cũng là một gánh nặng kinh tế lớn cho người nông dân và chính quyền địa phương.

VI. Top giải pháp cấp bách bảo vệ chất lượng nước sông Bưởi

Để cải thiện chất lượng nước sông Bưởi, cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Trước hết, vai trò quản lý nhà nước của Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa và chính quyền địa phương cần được phát huy mạnh mẽ. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp nhà máy xả thải ra sông Bưởi không đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là các nguồn thải từ thượng nguồn. Đối với các nguồn thải tại chỗ, cần có quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung cho khu dân cư và các khu chăn nuôi. Bên cạnh các giải pháp về chính sách và công nghệ, việc nâng cao nhận thức cộng đồng là yếu tố then chốt. Cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rõ về tác động của ô nhiễm nước đến sức khỏe và lợi ích của việc bảo vệ môi trường. Vận động người dân không vứt rác thải bừa bãi, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật một cách hợp lý sẽ góp phần giảm thiểu đáng kể lượng chất ô nhiễm chảy vào sông. Bảo vệ sông Bưởi không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng vì một tương lai bền vững.

6.1. Tăng cường quản lý và quan trắc môi trường nước

Cần thiết lập một mạng lưới quan trắc môi trường nước sông Bưởi thường xuyên hơn, với các trạm tự động để có thể cảnh báo sớm các sự cố ô nhiễm. Dữ liệu quan trắc phải được công khai, minh bạch để người dân và các tổ chức xã hội cùng tham gia giám sát. Các chế tài xử phạt vi phạm về môi trường cần phải đủ sức răn đe để ngăn chặn hành vi xả thải trái phép.

6.2. Giải pháp công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt và chăn nuôi

Khuyến khích và hỗ trợ các hộ gia đình xây dựng các hầm biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, vừa giảm ô nhiễm, vừa tạo ra năng lượng sạch. Đối với nước thải sinh hoạt, có thể áp dụng các mô hình xử lý phi tập trung, chi phí thấp như bãi lọc trồng cây hoặc hồ sinh học trước khi xả ra sông. Nghiên cứu và áp dụng các mô hình này sẽ giúp giải quyết vấn đề ô nhiễm tại nguồn một cách hiệu quả.

6.3. Nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn nước

Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, các chiến dịch thu gom rác thải ven sông và lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục tại các trường học địa phương. Xây dựng các mô hình 'dòng sông không rác thải' do chính người dân quản lý sẽ tạo ra sự thay đổi bền vững từ nhận thức đến hành động của cộng đồng.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cuộc sống trên trái đất bắt nguồn từ trong nƣớc. Tất cả các sự sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nƣớc trong vòng tuần hoàn nƣớc, Nƣớc có ảnh hƣởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Nƣớc ở tại Việt Nam chúng ta rất phong phú và đa dạng gồm các loại nƣớc mặt nƣớc ngầm ở các lƣu vực tự nhiên và nhân tạo đƣợc con ngƣời tạo ra nhƣ hồ, đập. Con nguời và mọi sự sống trên trái đất đều cần đến nƣớc để có thể duy trì đƣợc sự sống trong cơ thể, nƣớc còn đƣợc con ngƣời dùng trong sinh hoạt, sản xuất và là một thành phần không thể thiếu.

Việt Nam có tài nguyên nƣớc vào loại trung bình trên thế giới với giá trị trung bình đầu ngƣời khoảng 5.000m3 năm, tức là cao hơn không đáng kể so với giá trị trung bình của 27 quốc gia vùng Châu Á - Thái Bình Dƣơng khoảng 4. Trong tổng số nƣớc sử dụng thì hơn 70% phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với mục đích tƣới tiêu ( theo chiến l ợc quốc gia về tài nguyên n ớc – Viện khoa học pháp lý ) Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc diễn ra nhanh thì quá trình đô thị hoá và sự gia tăng dân số không ngừng kéo theo làm nhu cầu sử dụng nƣớc của con ngƣời ngày càng tăng. Lƣợng nƣớc thải không đƣợc xử lý trƣớc khi thải ra môi trƣờng ngày càng nhiều làm cho chất lƣợng nƣớc ở các thủy vực này bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí nhiều thủy vực từ chức năng tiêu cấp nƣớc tƣới đã trở thành nơi chứa nƣớc thải từ chính những hoạt động của con ngƣời. Việt Nam có khoảng 2360 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính.

Trong số này có 9 con sông lớn là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang-Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia-Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long và bốn nhánh sông là sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông SrêPok đã tạo nên một lƣu vực trên 10.000 km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lƣới sông ngòi Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay chất lƣợng nƣớc của các lƣu vực này đang bị suy giảm nghiêm trọng ( theo Wikipedia ) 1 Sông Bƣởi là dòng sông bắt nguồn từ tỉnh Hòa bình, nó đƣợc tạo thành bởi hai dòng chảy từ huyện Mai Châu và huyện Tân Lạc, hai nhánh sông nhỏ này nằm ở vùng phía nam hồ Hồ Hòa Bình và hai nhánh này hợp lại thành dòng sông bƣởi chảy qua các huyện phía bắc tỉnh thanh hóa nhƣ Cẩm Thủy, Thạch Thành rồi chảy xuống Huyện Vĩnh Lộc qua xã Vĩnh Hòa và hòa làm phụ lƣu của dòng sông Mã. Sông bƣởi với tổng chiều dài 130 km. Diện tích lƣu vực 1.790 km², độ cao trung bình 247 m, độ dốc trung bình 12,2%, mật độ sông suối 0,59 km/km².

Tổng lƣợng nƣớc 1,65 km³, tƣơng ứng với lƣu lƣợng bình quân 52,2 m³/s và môđun dòng chảy năm 27,7 l s. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 80,4% lƣợng nƣớc cả năm, lớn nhất vào tháng 9-10 (chiếm 27,9% lƣợng dòng chảy cả năm. Với sự phát triển hiện nay của khu vực cuối sông Bƣởi là xã Vĩnh Hòa, từ một khu vực thƣa dân từ những năm đầu thế kỷ 21 khu vực đƣợc quy hoạch và phát triển thành khu nông thôn mới, dân số ngày một gia tăng đến mức chóng mặt và kéo theo hệ lụy ô nhiễm môi trƣờng ô nhiễm các dòng nƣớc từ chất thải sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất của ngƣời dân. Vì không muốn dòng sông quê mình bị ô nhiễm và vấy bẩn theo thời gian nên tôi đã thực hiện đề tài “ Đánh giá chất lƣợng sông Bƣởi đoạn chảy qua xã Vĩnh Hòa – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa ” để có thể đánh giá đƣợc chất lƣợng nƣớc sông quê mình và từ đó đƣa ra những giải pháp đề xuất lên cho các ban ngành và tuyên truyền cho ngƣời dân để cải thiện chất lƣợng nƣớc của dòng sông đã từng gắn bó với tuổi thơ của tôi.

2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hiện trạng tài nguyên nƣớc 1.1 Trên thế giới Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lƣợng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nƣớc tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện Nƣớc quốc tế SIWI đƣợc công bố tại Tuần lễ Nƣớc thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển. Thực tế trên khiến nguồn nƣớc dùng trong sinh hoạt của con ngƣời bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nƣớc đang phát triển là do không đƣợc tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nƣớc) và các bệnh liên quan đến nƣớc.Thiếu vệ sinh và thiếu nƣớc sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lƣơng Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ ngƣời phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nƣớc và 2 3 cƣ dân trên hành tinh có thể bị thiếu nƣớc.

Theo ƣớc tính của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chƣa đƣợc sử dụng nƣớc sạch và khoảng 20 triệu 59% chƣa có nhà tiêu hợp vệ sinh. Hiện có tới 10% trẻ em ở thành phố không có nhà tiêu. Con số này ở nông thôn là 40%. Thiếu nƣớc sạch và vệ sinh ảnh hƣởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng).

Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đông Á cho thấy chất lƣợng nƣớc ở khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em. Tình trạng ô nhiếm a-sen (thạch tín và flo fluoride trong nƣớc ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu ngƣời dân trong khu vực. Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nƣớc bẩn gây ra đã ảnh hƣởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em.Hàng ngày có rất nhiều em ở các nƣớc đang phát triển không đƣợc đến 3 trƣờng vì bị các bệnh nhƣ tiêu chảy, nhiễm trùng đƣờng ruột. Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trƣờng đi học nếu không có công trình nƣớc và vệ sinh riêng biệt cho các em.

Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nƣớc tổ chức tại Mehico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nƣớc sạch.Theo đó, trẻ em là ngƣời phải trả giá cao nhất khi không đƣợc sử dụng nƣớc sạch.Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dƣới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày. Ô nhiễm nƣớc đang ngày càng nghiêm trọng do nền kinh tế của các nƣớc đang phát triển mà môi trƣờng lại không chịu tải sức ép của các nền kinh tế. Theo dự đoán của một số nhà khoa học thì đến năm 2020 những tác động do môi trƣờng ô nhiễm sẽ tăng mạnh, trong đó3 4 số khu vực đánh giá sẽ đánh giá đƣợc sự tác động các nguồn nƣớc quốc tế trên toàn cầu. Khoảng 1/4 khu vực nghiên cứu cho thấy các chất lơ lửng có trong nƣớc tăng cao.

Bao gồm các khu vực biển Caribbean, khu vực Đông Nam Á, Đông Phi, Brazil, hồ Rift Valley Hình 1.1: Phân bố nguồn nƣớc trên Trái đất 4 1.2 Tại Việt Nam Giống nhƣ một số nƣớc trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Thực trạng ô nhiễm nƣớc mặt : Hiện nay chất lƣợng nƣớc ở vùng thƣợng lƣu các con song chính còn khá tốt. Tuy nhiên ở các vùng hạ lƣu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề. Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lƣợng nƣớc đổ về các con sông giảm.

Chất lƣợng nƣớc suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu nhƣ : BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ô nhiễm nƣớc mặt khu đô thị: các con sông chính ở Việt Nam đều đã bị ô nhiễm. Ví dụ nhƣ sông Thị Vải, là con song ô nhiễm nặng nhất trong hệ thống song Đồng Nai, có một đoạn song chết dài trên 10km. Giá trị đo thƣờng xuyên dƣới 0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan ( 0.04 mg/l) Với giá trị gần bằng 0 nhƣ vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống.

Thực trạng ô nhiễm nƣớc dƣới đất: Hiện nay nguồn nƣớc dƣới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhƣ bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nƣớc dƣới đất bị hạ thấp. Hiện tƣợng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng song Cửu Long. Khai thác nƣớc quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tƣợng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Nƣớc dƣới đất bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách.

Thực trạng ô nhiễm nƣớc biển: Nƣớc biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng đồng bằng song Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit, colifom ( chủ yếu là đồng bằng song Cửu Long), dầu và kim loại kẽm… Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn nhƣ Hà Nội và TP HCM, nơi có dân cƣ đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm. Phần lớn lƣợng nƣớc thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác đƣợc thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 nhƣng chỉ có 10% đƣợc xử lý đều không đƣợc xử lý, mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Kông. 5 Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất nhƣ các lò mổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000 m3 mỗi ngày, chỉ 30% là đƣợc xử lý cũng không đƣợc trang bị hệ thống xử lý nƣớc thải. Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lƣu ý là hệ thống hồ trong công viên Yên Sở.

Đây đƣợc coi là thùng chứa nƣớc thải của Hà Nội với hơn 50% lƣợng nƣớc thải của thành phố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ