Mở đầu giai đoạn nghiên cứu đất của nhà nước Việt Nam là công trình xây dựng công trình sơ đồ thổ nhưỡng miền bắc tỷ lệ 1:1.000 với chú giải chia cắt miền bắc Việt Nam thành 5 nhóm và 18 loại năm 1959, và được V.Fridland chỉnh lý bổ xung thành 5 nhóm và 27 loại năm 1963. Phương pháp điều tra nghiên cứu đất với tầm nhìn toàn bộ lãnh thổ được đúc kết trong tác phẩm “Các loại đất chính miền bắc Việt Nam”- Vũ Ngọc Tuyên, Trần Khải, Phạm Gia Tu (1963). - Những năm bảy mươi đã coi trọng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, công tác nghiên cứu đất tập trung vào nghiên cứu tính chất vật lý, hóa học, độ phì nhiêu của đất; nghiên cứu cải tạo đất, xói mòn đất; đặc biệt là nghiên cứu phân loại đất cho bản đồ đất các tỷ lệ, xây dựng quy trình kỹ thuật cho công tác điều tra thành lập bản đồ đất tỷ lệ lớn và trung bình. Công tác nghiên cứu đất từ sau năm 1975: - Ban đầu, đặt trọng tâm vào xây dựng các bảng phân loại đất phục vụ cho bản đồ đất ở các loại tỷ lệ, quy phạm điều tra đất phục vụ cho phát triển trên cả nước nhất là miền nam mới giải phóng và thực hiện điều tra cơ bản tổng hợp cấp nhà nước ở các vùng lãnh thổ lớn.
Những công tác điều tra cơ bản đó đã đem lại những kết quả: sơ đồ đất và tài nguyên nông nghiệp tỷ lệ 1: 25000 - 1: 50000 cho tất cả các huyện miền nam, xây dựng các vùng chuyên canh và các vùng kinh tế mới nhằm mở rộng hàng triệu ha đất nông nghiệp, cải tạo và đưa vào sử dụng có hiệu quả một diện tích lớn đất phèn, đất mặn, đất xám bạc mầu… Đồng thời giai đoạn này Bộ Nông nghiệp đã thành lập Ban biên tập bản đồ thổ nhưỡng Việt Nam, tập hợp tất cả các công trình nghiên cứu đất Việt nam đến thời gian đó, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1: 1.000 và chú giải kèm theo. - Những năm cuối thập kỷ 80, Việt Nam đã tiếp thu Soil Taxxonomy và hệ thống phân loại FAO-UNESCO để tiến hành phân loại đất Việt Nam, đây chính là thời kỳ phân loại định lượng. - Từ những năm 1990 trở lại đây, nước ta đã thống nhất chuyển đổi theo hướng phân loại đất kết hợp định tính và định lượng theo FAO – UNESCO, giai đọan này các công trình nghiên cứu đi sâu vào nhiều vấn đề liên quan đến thổ nhưỡng và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Bên cạnh các công trình nghiên cứu thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu thổ nhưỡng theo nhiều Học viên: Phạm Hồng Phong 8 Niên khoá: 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học: “Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng và biến động sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội” hướng khác nhau của các tác giả trong nước có ý nghĩa ứng dụng như các công trình đánh giá đất đai, đánh giá thích nghi hiện trạng đất, nghiên cứu ô nhiễm đất… để xác lập cơ sở khoa học cho phát triển nông lâm nghiệp ở nhiều khu vực nước ta.
Đồng thời nghiên cứu đất góp phần không nhỏ vào công tác đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội lãnh thổ phục vụ phát triển kinh tế có hiệu quả đồng thời phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. - Bên cạnh các công trình nghiên cứu thổ nhưỡng ở các khu vực lớn, rất nhiều các khóa luận, đề tài tài thạc sĩ đã từng bước nghiên cứu các hợp phần tự nhiên cơ bản của khu vực nghiên cứu theo nhiêu quy mô, mức độ khác là nguồn tư liệu quý giá để thực hiện luận văn. Tổng quan nghiên cứu sử dụng đất phát triển nông nghiệp bền vững a. Đặc điểm sử dụng đất vùng nhiệt đới Nông nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới.
Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia. Theo đánh giá của Ngân hành thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực sản xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép từ nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người. Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12.000 m2/người, ở Bungari 7.000 m2/người, ở Nhật Bản 650 m2/người. Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha [16]. Năm 2006, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.121,2 nghìn ha, dân số là 85.154,9 nghìn người, mật độ dân số 257 người/km2.
Bình quân diện tích đất tự nhiên là 3889 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực. Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.833,8 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2916 m2/người. Học viên: Phạm Hồng Phong 9 Niên khoá: 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học: “Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng và biến động sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội” b. Vấn đề suy thoái tài nguyên đất Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường.
Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón. Gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người [15]. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất. Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng.
Để đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm. Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống. Ở Việt Nam, qua các quả nghiên cứu đều cho thấy ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg.
Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên. Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường.S chỉ ra rằng “Sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên” [17] Trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích [14].
Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha Học viên: Phạm Hồng Phong 10 Niên khoá: 2009 - 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn cao học: “Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng và biến động sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội” đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy. Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt. Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Theo kết quả điều tra của FAO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc.
Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi: 5 - 10 tấn/ha; Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha [15]. Nguyên tắc sử dụng đất bền vững - Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. - Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. - Sử dụng đất nông nghiệp theo nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”.