CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. DỊCH VỤ VÀ ðẶC ðIỂM CỦA DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ Theo từ ñiển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất ñịnh của số ñông, có tổ chức và ñược trả công. Theo giáo trình kinh tế các ngành thương mại dịch vụ, NXB Thống kê năm 2003, chủ biên PGS.TS ðặng ðình Hào - Trường ðại Học Kinh Tế Quốc Dân: Dịch vụ là một sản phẩm kinh tế không phải là một vật phẩm mà là công việc của con người dưới hình thức là lao ñộng thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại.
Theo giáo trình marketing dịch vụ, NXB ðại Học Kinh Tế Quốc Dân năm 2008 của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm: Dịch vụ là một quá trình hoạt ñộng bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay ñổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất 1. ðặc ñiểm cơ bản của dịch vụ Theo giáo trình kinh tế các ngành thương mại dịch vụ, NXB Thống kê năm 2003, chủ biên PGS.TS ðặng ðình Hào - Trường ðại Học Kinh Tế Quốc Dân: Dịch vụ có các ñặc ñiểm cơ bản chủ yếu, gồm: a. Tính vô hình hay phi vật chất Không thể cân ño ñong ñếm và rất khó kiểm soát chất lượng, thay ñổi theo khách hàng, theo thời gian.
Tính không tách rời giữa sản xuất với tiêu dùng Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ luôn diễn ra ñồng thời. Dịch vụ 7 không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó, trong khi hàng hóa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt nguồn gốc của nó. Với dịch vụ tư vấn (ñầu tư, sức khỏe….), khi chuyên gia tư vấn cho khách hàng cũng là lúc khách hàng tiếp nhận và sử dụng xong dịch vụ tư vấn do chuyên gia cung ứng. Tính không ñồng nhất của dịch vụ Chất lượng dịch vụ thường dao ñộng trong một biên ñộ rộng, tùy thuộc vào ñối tượng (người cung ứng), hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (thời gian, không gian) và ñối tượng sử dụng dịch vụ (khách hàng) nên không thể tiêu chuẩn hóa các sản phẩm dịch vụ phải có chất lượng ñồng nhất.
Cùng trải nghiệm chung một chuyến du lịch, một khách hàng cho là dịch vụ tốt, trong khi khách hàng khác lại ñánh giá chất lượng dịch vụ ở mức trung bình hoặc kém. Tính không thể tồn kho hay lưu giữ Dịch vụ không thể lưu giữ. Không thể mua vé xem bóng ñá trận này ñể xem trận khác. Tính không lưu giữ ñược của dịch vụ không phải là vấn ñề quá lớn nếu như nhu cầu ổn ñịnh và có thể dự ñoán truớc.
Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ổn ñịnh, ñôi khi mang tính thời vụ (như mùa du lịch, nhu cầu sử dụng ñiện,…) luôn dao ñộng thì công ty cung ứng dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong huy ñộng và sử dụng các nguồn lực. Tính không thể hoàn trả Nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể ñược hoàn tiền nhưng không thể hoàn trả dịch vụ. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Khi nói ñến chất lượng dịch vụ, không thể không ñề cập ñến ñóng góp rất lớn của Parasuraman & ctg (1988) khi cho rằng “chất lượng dịch vụ là mức ñộ khác nhau giữa sự mong ñợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận 8 thức của họ về kết quả của dịch vụ”(1).
Các tác giả này ñã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu ñịnh tính và ñịnh lượng ñể xây dựng và kiểm ñịnh thang ño các thành phần của chất lượng dịch vụ (thang ño SERVQUAL). Thang ño SERVQUAL ñược ñiều chỉnh và kiểm ñịnh ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Cuối cùng thang ño SERVQUAL bao gồm 22 biến ñể ño lường năm thành phần của chất lượng dịch vụ, ñó là: ñộ tin cậy (reliability), tính ñáp ứng (responsiveness), tính ñảm bảo (assurance), phương tiện hữu hình (tangibles) và sự ñồng cảm (empathy). Theo Mehta & ctg (2000), trong một nghiên cứu tại Singapore ñã kết luận rằng, chất lượng dịch vụ siêu thị chỉ bao gồm hai thành phần: (1) Phương tiện hữu hình và (2) Nhân viên phục vụ.
Nguyễn & ctg (2003) kiểm ñịnh SERVQUAL cho thị trường khu vui chơi giải trí ngoài trời tại TPHCM cho thấy, chất lượng dịch vụ này bao gồm bốn thành phần: (1) ðộ tin cậy;(2) Khả năng phục vụ của nhân viên;(3) Sự ñồng cảm;(4) Phương tiện hữu hình. ðể kết luận, do ñặc thù của mỗi loại hình dịch vụ nên nhà nghiên cứu cần phải ñiều chỉnh thang ño SERVQUAL phù hợp với từng nghiên cứu cụ thể. ðặc ñiểm của chất lượng dịch vụ Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng theo giáo trình marketing dịch vụ, NXB ðại Học Kinh Tế Quốc Dân năm 2008 của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm, xét một cách tổng thể chất lượng dịch vụ bao gồm những ñặc ñiểm sau ñây: a. Tính vượt trội ðối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện ñược tính vượt trội ưu việt của mình so với những sản phẩm khác.
Nhờ vào tính ưu việt này làm cho chất lượng dịch vụ trở thành lợi thế cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, do sự ñánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch (1) Parasuraman & ctg (1988, trang 17) 9 vụ là từ cảm nhận của khách hàng nên tính ưu việt bị chi phối rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía khách hàng sử dụng dịch vụ ñó.Tính ñặc trưng của sản phẩm Chất lượng dịch vụ bao hàm những ñặc ñiểm cơ bản nhất và những tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm, dịch vụ tạo nên những ñặc thù của sản phẩm, dịch vụ mà những sản phẩm dịch vụ khách không thể nào có ñược. Vì vậy, những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cao sẽ mang nhiều “ñặc trưng ưu việt” hơn so với dịch vụ có chất lượng thấp hơn. ðặc trưng vượt trội này bao gồm cả các thuộc tính hữu hình lẫn vô hình của sản phẩm dịch vụ.
Nhờ vào tính ñặc trưng của sản phẩm mà khách hàng có thể phân biệt ñược chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế việc phân biệt tính ñặc trưng của sản phẩm dịch vụ là rất khó khăn chỉ trừ những trường hợp chất lượng dịch vụ cách biệt nhau quá lớn. Vì vậy, tính ñặt trưng của sản phẩm hay dịch vụ chỉ mang tính tương ñối giúp cho việc nhận biết chất lượng dịch vụ trong những trường hợp cụ thể dễ dàng hơn. Tính cung ứng Chất lượng dịch vụ gắn liền nhiều quá trình từ giai ñoạn chuẩn bị cho ñến khi khách hàng sử dụng và cả khoảng thời gia dài sau khi dùng dịch vụ trong ñó bao hàm quá trình cung ứng.
Tiến trình này liên quan ñến qui trình triển khai dịch vụ, phong cách và thái ñộ phục vụ của ñội ngũ nhân viên, tiến trình này ñược vận hành hoàn hảo sẽ góp phần làm cho chất lượng dịch vụ tốt hơn nếu tiến trình này chưa hoàn thiện thì chất lượng dịch vụ không thể nào tốt ñược. ðây là những yếu tố nội tại bên trong nhà cung cấp dịch vụ, chính bản thân nhà cung cấp dịch vụ phải nhận biết ñược các tồn tại ñể cải tiến hoàn thiện nó ñể tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài. Tính thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu của khách hàng chính là tiền ñề và căn cứ hình thành dịch vụ 10 của nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy, một dịch vụ nào ñó ñược sản sinh ra nhất thiết phải phục vụ cho một nhu cầu nào ñó của con người và chất lượng dịch vụ tất yếu phải thỏa mãn nhu cầu ñó của khách hàng.
Các nhà cung cấp dịch vụ cần phải nghiên cứu thật kỹ các nhu cầu của khách hàng vào làm thỏa mãn nó theo một phương cách tối ưu nhất không nên ñáp ứng quá mức nhu cầu của khách hàng. Xét trên phương diện “phục vụ khách hàng” và “tính thỏa mãn nhu cầu” ñã bao hàm cả ý nghĩa của “tính cung ứng” không những thế mà còn bao hàm những ñặc ñiểm khác bởi vì chất lượng dịch vụ như ñã trình bày trên là một toàn trình bao hàm tất cả các giai ñoạn cung cấp dịch vụ nếu khách hàng không thỏa mãn với bất kì một giai ñoạn nào ngay cả giai ñoạn hậu mãi (chăm sóc sau bán hàng) thì cũng có thể làm suy giảm chất lượng dịch vụ. Tính tạo ra giá trị Giá trị là sự ñánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng. Khi chất lượng dịch vụ thỏa mãn một nhu cầu nào ñó của con người ñiều ñó ñồng nghĩa với việc dịch vụ ñó tạo ra một giá trị nhất ñịnh dù nó là vô hình rất khó ño ñếm ñược.
Dịch vụ không tạo ra giá trị tức là không thỏa mãn một nhu cầu nào của khách hàng thì xem như là không có chất lượng. Tính tạo ra giá trị của chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào sự cảm nhận của khách hàng (ñối tượng sử dụng dịch vụ) hơn là nhà cung cấp dịch vụ. Khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ họ sẽ so sánh với giá trị mà họ nhận ñược so với những gì họ kỳ vọng trước khi sử dụng dịch vụ. SIÊU THỊ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ SIÊU THỊ 1.
Khái niệm siêu thị Siêu thị là từ ñược dịch từ thuật ngữ của tiếng Anh là “Supermatket” (Super là siêu, matket là chợ) hoặc tiếng Pháp là “Supermarché”. Siêu thị xuất 11 hiện lần ñầu tại Mỹ vào năm 1930. Theo Từ ñiển kinh tế ứng dụng Anh – Việt (từ A ñến Z), chủ biên PGS.TS Hoàng Văn Châu, NXB Thống kê năm 2003, siêu thị là ñược hiểu là “cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, ñồ uống, dụng cụ gia ñình và các loại vật dụng cần thiết khác”. Ngoài ra, do trình ñộ phát triển về kinh tế, xã hội và quá trình hình thành và phát triển siêu thị của mỗi nước, nên có nhiều ñịnh nghĩa khác nhau về siêu thị.
Tại Mỹ, siêu thị ñược hiểu là “cửa hàng tự phục vụ tương ñối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, ñảm bảo thỏa mãn ñầy ñủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa”(2).