Mở đầu thì bài Luận văn được kết cầu gồm 4 chương: + CHUONG 1: CO SG LY LUẬN VỀ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ ĐO LƯỜNG CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ *CHUONG 2: THIET KE NGHIEN CUU DO LUONG CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ MAT DAT CUA BAV *CHUONG 3: DANH GIA CHAT LUGNG DICH VU MAT DAT CUA BAMBOO AIRWAYS *CHUONG 4: CAC GIAI PHAP NHAM CAI TIEN CHAT LUQGNG DICH VU MAT DAT CUA BAMBOO AIRWAYS 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 'Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động trẻ hùng hậu. Đối với nhóm này, thu nhập tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của nhu cầu du lịch và đi lại bằng máy bay. Tăng trưởng GDP của Việt Nam được dự đoán tiếp tục dẫn đầu khu vực trong những năm tới, đồng nghĩa với việc dư địa phát triển của thị trường hàng không nội địa vẫn còn nhiều.
Các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ mặt đất của các Hãng hàng không tại Việt Nam đã được công bố bằng nhiều hình thức đề tài, dự án và chuyên đề bài viết phát hành trên sách, báo, tạp trí, internet. Các nghiên cứu được thực hiện cơ bản, đi sâu và đưa ra những luận cứ khoa học và thực tiễn liên quan đến chất lượng dịch vụ mặt đất. Nhận biết được đây là những nguồn tư liệu phong phú, chính vì vậy tôi đã kế thừa và làm tiền đề cho việc nghiên cứu luận văn của mình. Nghiên cứu của Trịnh Thùy Anh và Tran Thanh Huyền (2012) về đề tài “Nghiên cứu mức độ hài lòng của hàng khách đối với chất lượng dịch vụ tại Cảng hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất” đăng trên tạp chí khoa học Trường.
Đại học mở Tp. Bài viết nghiên cứu mức độ hài lòng của hành khách đối với chất lượng dịch vụ hành khách tại cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất dựa trên kết quả khảo sát 200 hành khách tại cảng hàng không ở hai nhà ga quốc tế và quốc nội theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu hoàn thành KPI (Key Perfomance Indicator) để đánh giá chất lượng dịch vụ hành khách, từ đó xây dựng được mô hình hồi quy tuyến tính phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của hành khách đối với chất lượng dịch vụ phục vụ tại cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Mức độ hài lòng của hành khách đối với chất lượng dịch vụ tại CHKQT Tân Sơn Nhất được xác định do 5 yếu tố tạo nên, đó là: Độ đáp ứng, Điều kiện hữu hình, Giá trị gia tăng, Độ tin cậy và Dịch vụ quá cảnh/nối chuyến.
Các tiêu chí này đã được đánh giá căn cứ vào 47 chỉ tiêu KPI thẻ hiện chất lượng. dịch vụ khách hàng tại cảng. Căn cứ mô hình IPA, nghiên cứu này cho thấy vấn đề cần được cải thiện là dịch vụ giá trị gia tăng, đây chính là đề xuất đối với nhà khai thác CHKQT Tân Sơn Nhất đề tập trung nguồn lực tốt hơn nhằm. cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Nghiên cứu của Dương Thanh Truyền và Nguyễn Thị Mai Trang (2014) về đề tài “Một số nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng: Một nghiên cứu về dịch vụ hàng không nội địa ở Việt Nam” đăng trên tạp chí khoa học Trường Đại học mở Tp. Nghiên cứu này có mục đích xem xét tác động của chất lượng dịch vụ và hình ảnh thương hiệu đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ hàng không nội địa tại 'Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu cũng kiểm tra mối quan hệ giữa sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Mô hình cầu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ trên với 210 hành khách sử dụng dịch vụ hàng không nội địa tại Thành phó Hồ Chí Minh, Việt Nam, cụ thể là các chuyến bay từ Thành phố Hồ Chí Minh-Hà Nội.
Kết quả cho thấy chất lượng. dịch vụ có tương quan thuận với sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Ngoài ra, hình ảnh thương hiệu cũng có mối tương quan thuận với sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Sự hài lòng cũng tương quan thuận với lòng trung thành của khách hàng.
Nghiên cứu của Lê Đức Toàn (2020) về đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng, của hành khách đối với chất lượng dịch vụ chặng bay Rạch Giá - TP. Hồ Chí Minh của Công ty Bay dịch vụ hàng không” trên Tạp chí Công thương. Bài viết nghiên cứu sự hài lòng của hành khách (SHL) đối với chất lượng dịch vụ chặng bay Rạch Giá - TP. Hồ Chí Minh của Công ty Bay dịch vụ hàng không (VASCO).
Kết quả nghiên cứu tìm ra 3 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng là: (1) Dịch vụ trên không, (2) Các yếu tố trước chuyến bay và (3) Dịch vụ mặt đất. Các đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ mặt đất tại CHK quốc tế Tân Sơn Nhất” Hoàng Anh Thư, Luận văn Thạc sỹ, trường đại học kinh tế Hồ Chí Minh, 2019; “Quản trị chất lượng dịch vụ mặt đất của Vietnam Airlines” Huỳnh Thị Tường Vân, Luận văn Thạc sỹ, trường đại học kinh tế Đà Nẵng, 2013;. cho ching ta thay t quả nghiên cứu mang nhiều ý nghĩa thực tiễn: cung cấp cho chúng ta thấy khái quát về chất lượng dịch vụ, những biến cụ thể để đánh giá sự hài lòng của khách hàng. Từ đó xác định những gì Bamboo Airways đã đạt được, những gì chưa làm được, những yếu tố tác động mạnh đến sự hài lòng của khách hàng để thực hiện những giải pháp nhằm cải thiện dịch vụ mặt đất của Bamboo Airways.
Nghiên cứu cũng xây dựng được một công cụ đo lường chất lượng dịch vụ mặt đất tại CHK quốc tế Đà Nẵng để có thể áp dụng cho các khu vực khác, tuy thang đo chưa đạt được tính khái quát cao do hạn chế trong các biến thực hiện. Tuy nhiên, hiện tại chưa có chuyên đề, đề tài nào nghiên cứu về chất lượng dịch vụ mặt đất của Hãng hàng không Bamboo Airways từ sự cảm nhận của khách hàng. Vì vậy, tôi hướng tới nghiên cứu đề tài “Đo lường chất lượng dịch vụ mặt đất của Hãng hàng không Bamboo Airways” làm luận văn. Đồng thời vận dụng các giải pháp để duy trì, phát triển dịch vụ, tăng thị phần trong vận tải hàng không của Bamboo Airways.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHAT LUQNG DICH VỤ VÀ ĐO LUONG CHAT LUQNG DICH VU 1. KHÁI NIỆM DỊCH VỤ Tại bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, trong nền kinh tế, những khái niệm về dịch vụ và chất lượng là những khái niệm hết sức phổ biến. Nhắc tới dịch vụ và chất lượng, đã có rất nhiều những khái niệm được đưa ra. Trước tiên, có thể nhận thấy rằng: “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml & Britner, 2000).
Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng (Kotler & Armstrong, 2004)”. Gronroos (1990) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/ hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/ hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng”. Trích dẫn khái niệm của Kotler (2000) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [Bùi Thị Tám (2009), Giáo trình quản trị du lịch, Nhà xuất bản Đại học Huế] [2].
Theo định nghĩa của tô chức quóc tế về tiêu chuẩn hóa đưa ra (ISO 9004- 1991"): “Dich vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp dé đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng” “(Tổng Cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng Việt Nam, Bộ khoa học & Công nghệ ISO 9000 1991). Đây là một khái niệm được nhiều người sử dụng rộng rãi. Bản chất của dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.” Theo ISO9001:2015 “địch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cắp - khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp”. Như vậy, có thể cho rằng: “một sản phẩm đặc biệt bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín doanh nghiệp được gọi là dịch vụ”.
Dịch vụ không tồn tại ở dạng vật chất và có những vật cụ thẻ, vô hình nên chất lượng dịch vụ không thể được xác định trực tiếp bằng các chỉ tiêu kỹ thuật. Do đó, dịch vụ là kết quả của các hoạt động, không phải ở sản phẩm vật chất, mà là tính hữu dụng và giá trị kinh tế của chúng. Dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt có nhiều đặc tính khác với các hàng hóa khác như vô hình, không thé phân chia, không đồng nhất và có thể bảo quản được. Chính đặc điểm này khiến các dịch vụ khó định lượng và không thể nhận biết bằng mắt thường 1.
CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm chất lượng và chất lượng dịch vụ Chất lượng của hàng hóa dịch vụ là yếu tố quyết định sự sống còn và quyết định năng lực cạnh tranh của bất kỳ doanh nghiệp nào. Tuy nhiên, một định nghĩa rõ ràng về chất lượng luôn khó tạo ra sự thống nhất giữa khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan, bởi vì ẩn chứa phía sau khái niệm này là các vấn đề liên quan đến nhu cầu, khả năng thanh toán, khả năng cung cấp, các vấn đề liên quan đến văn hóa, tâm lý, tập quán của người tiêu dùng. Một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu và quản lý thừa nhận và sử dụng.