CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ CẤP XÃ 1. Khái niệm và vai trò của cán bộ cấp xã 1. Khái niệm cán bộ cấp xã 1. Khái niệm về cán bộ Theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1993, từ “Cán bộ” có 2 nghĩa; nghĩa thứ nhất là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng, Đoàn thể; nghĩa thứ hai là người làm việc có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức để phân biệt với người lao động thông thường, người làm việc không có chức vụ.
Song, về cơ bản có thể hiểu “Cán bộ” là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức đó. Theo khoản 1, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức (năm 2008) quy định cán bộ là “ Công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”. Theo quy định này, thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đảm bảo theo tiêu chí chung của cán bộ mà được bố trí làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
Những người là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể. Còn những người là cơ quan Nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân 4 dân và Ủy ban 9 nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Khái niệm cán bộ cấp xã “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vai trò của cán bộ cấp xã Đội ngũ cán bộ cấp xã đóng một vai trò quan trọng trong công tác thi hành nhiệm vụ, xây dựng, hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp cơ sở.
Đơn vị cấp xã có mạnh hay yếu một phần là phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ của cán bộ tại cơ sở đó. Cán bộ cấp xã là người đem chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới cho nhân dân, vừa là người thay mặt nhân dân phản ánh và đề xuất nguyện vọng của nhân dân đến với Đảng và Nhà nước. Có thể nói, cán bộ cấp xã sẽ quyết định sự thành hay bại của đường lối của Đảng và Nhà nước. Do vậy, một đội ngũ cán bộ vững mạnh sẽ phát huy tốt các chủ trương và đường lối của Đảng.
Cán bộ cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và quản lý công việc tại chính quyền cơ sở. Họ trực tiếp bảo đảm, bảo vệ các quyền tự do dân chủ và quyền lợi của công dân. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã vững mạnh là vô cùng cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là trong bối cảnh quá trình CN hóa, hiện đại hóa của đất nước như hiện nay. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của cán bộ cấp xã Tiêu chuẩn cán bộ là một hệ thống các yêu cầu về phẩm chất, năng lực, trình độ cần phải có để đảm đương và hoàn thành tốt nhiệm vụ do cương vị công tác đòi hỏi.
Xác định được tiêu chuẩn là rất cần thiết và quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong hoạt động thực tiễn, các cơ quan quản lý đều căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ để thực hiện việc bổ nhiệm, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý cán bộ. ở một mức độ nhất 5 định có thể coi tiêu chuẩn cán bộ Ủy ban nhân dân là nền móng để tạo nên và nâng cao chất lượng cán bộ Ủy ban nhân dân. Về tiêu chuẩn cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã hiện nay đang thực hiện theo Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12 /2011 của Chính phủ; Thông tư số 06/2012/TT- BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ; Luật Tổ chức Chính quyền địa phương và Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội vụ quy đinh tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã, phường, thị trấn; đồng thời theo tiêu chuẩn chung của hệ thống cán bộ được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2010.
Tiêu chuẩn chung là điều kiện cần mang tính chất cứng mà bất cứ công dân nào muốn tham gia công vụ đều phải hội đủ. Tiêu chuẩn cụ thể là điều kiện đủ, gắn với từng vị trí lãnh đạo cụ thể, nó thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của từng vị trí cụ thể. Hệ thống tiêu chuẩn của cán bộ, công chức cấp xã được quy định tại Điều 3, Điều 4, Nghị định 112/2011/NĐ- CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về 13 cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và quy định tại Điều 3 đến Điều 8, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ bao gồm: - Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương; - Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức kỷ luật trong công tác, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; - Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ cấp xã, phường, thị trấn theo Điều 5, 6, 7, 8 của Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ quy định 6 về tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ xã, phường, thị trấn được quy định cụ thể như sau: - Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân: + Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo ít nhất hai nhiệm kỳ; + Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông; + Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên; + Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên.
Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên, nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế xã 14 hội của từng loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế; Tại Điều 5, 6, 7, 8 của Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ là tiêu chuẩn để căn cứ các địa phương cho các địa phương thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá đối với cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã. Luật Cán bộ, công chức và Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn củ thể đối với cán bộ, công chức, xã, phường, thị trấn có thể khái quát nhiệm vụ của cán bộ Uỷ ban nhân cấp xã cụ thể như sau: (1) Nhiệm vụ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Lãnh đạo các mặt của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm: - Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân; - Đôn đốc, kiểm tra công tác các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; 7 - Trực tiếp quản lý chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ theo quyết định của pháp luật; - Tổ chức quản lý điều hành của Trưởng, Phó thôn, buôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật; - Báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Ủy ban nhân cấp trên; - Triệu tập và chủ tọa phiên họp của Ủy ban nhân dân xã, phường; - Áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chính nhà nước ở xã, phường, thị trấn hoạt động có hiệu quả; - Ngăn ngừa, đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong cán bộ, công chức Nhà nước và trong bộ máy chính quyền địa phương cấp xã; tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật; giải quyết và trả lời các kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân xã, phường, thị trấn; - Thực hiện, bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức theo sự phân cấp quản lý; - Đình chỉ hoặc bãi bỏ quy định trái pháp luật của trưởng thôn, buôn, tổ dân phố; - Ra quyết định, Chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.