Đánh Giá Bài Xuất Natri Niệu Trong Đánh Giá Đáp Ứng Lợi Tiểu Quai Ở Bệnh Nhân Suy Tim Cấp

Bài viết phân tích vai trò của natri niệu trong đánh giá hiệu quả lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp 1, cung cấp thông tin hữu ích cho điều trị.

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ nội trú

2021

152
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về suy tim cấp

1.2. Đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp

1.3. Bài xuất natri niệu trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm

2.3. Dân số nghiên cứu

2.4. Phương pháp chọn mẫu

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.7. Y đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Các đặc điểm về liều dùng và đáp ứng sau khi điều trị lợi tiểu quai

3.3. Biến cố suy tim cấp nặng hơn trong thời gian nội viện

3.4. Đặc điểm của bài xuất natri niệu ở bệnh nhân suy tim cấp có điều trị lợi tiểu quai

3.5. Mối liên quan giữa các chỉ dấu bài xuất natri niệu với các thang đo lâm sàng (mức sụt cân, cân bằng xuất nhập, thể tích nước tiểu) trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai

3.6. Vai trò của các chỉ dấu bài xuất natri niệu trong tiên đoán biến cố suy tim cấp nặng hơn trong thời gian nội viện

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm đáp ứng với lợi tiểu quai

4.3. Đặc điểm của bài xuất natri niệu ở bệnh nhân suy tim cấp có điều trị lợi tiểu quai

4.4. Mối liên quan giữa các chỉ dấu bài xuất natri niệu với các thang đo lâm sàng (mức sụt cân, cân bằng xuất nhập âm, và thể tích nước tiểu) trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai

4.5. Vai trò của bài xuất natri niệu trong tiên đoán biến cố suy tim cấp nặng hơn trong thời gian nội viện

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Phiếu thu thập dữ liệu nghiên cứu khoa học

Phụ lục 2: Bản thông tin dành cho người tham gia nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu

Phụ lục 3: Tiêu chuẩn chẩn đoán

Phụ lục 4: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu và các văn bản pháp lý có liên quan

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Suy Tim Cấp Định Nghĩa Phân Loại Dịch Tễ

Suy tim cấp là một hội chứng lâm sàng cấp tính, đòi hỏi chẩn đoán và điều trị khẩn cấp. Các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim xuất hiện hoặc trở nên trầm trọng hơn, đe dọa tính mạng và thường dẫn đến nhập viện. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện ở bệnh nhân trên 65 tuổi, với hơn 26 triệu lượt nhập viện trên toàn thế giới mỗi năm. Tỷ lệ tử vong sau một năm ở bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp vẫn còn cao, khoảng 20-30%, và tăng lên sau mỗi lần nhập viện. Theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Châu Âu năm 2016, suy tim cấp cần được chẩn đoán và điều trị sớm để cải thiện kết quả lâm sàng. Các phương pháp điều trị phổ biến bao gồm lợi tiểu quai, thuốc giãn mạch và oxy.

1.1. Định Nghĩa Suy Tim Cấp Theo Hướng Dẫn ESC 2016

Theo hướng dẫn của Hội Tim Mạch Châu Âu 2016, suy tim cấp là một hội chứng lâm sàng trong đó các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng suy tim xuất hiện mới hoặc nặng lên, đây là tình trạng đe dọa tính mạng thường dẫn đến nhập viện khẩn cấp, cần được chẩn đoán và điều trị sớm [83]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính cấp tính và mức độ nghiêm trọng của tình trạng bệnh, đòi hỏi can thiệp y tế kịp thời. Việc chẩn đoán nhanh chóng và chính xác là yếu tố then chốt để cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân suy tim cấp.

1.2. Phân Loại Suy Tim Cấp Các Thể Lâm Sàng Thường Gặp

Có nhiều cách phân loại suy tim cấp dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau. Bệnh nhân suy tim cấp nhập viện có thể được chia thành hai bệnh cảnh lâm sàng chính: suy tim cấp mới khởi phát (STCMKP) và đợt mất bù cấp trên nền suy tim mạn (ĐMBCSTM). Theo hướng dẫn của Hội Tim Châu Âu năm 2008, suy tim cấp có thể chia thành 6 thể lâm sàng: choáng tim, suy tim cấp do tăng huyết áp, suy tim với hội chứng động mạch vành cấp, suy tim phải đơn độc, phù phổi cấp và đợt mất bù suy tim mạn [34]. Việc phân loại này giúp các bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định điều trị phù hợp.

1.3. Dịch Tễ Học Suy Tim Cấp Gánh Nặng Bệnh Tật Toàn Cầu

Suy tim cấp là một gánh nặng lớn ở các quốc gia đang phát triển, là lý do nhập viện hàng đầu ở những bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi. Suy tim cấp thường là lý do nhập viện đầu tiên ở người cao tuổi, với khoảng 1 triệu lượt nhập viện mỗi năm tại Hoa Kỳ, và con số này tương tự như ở châu Âu [10]. Nhiều nghiên cứu ở châu Âu và Mỹ, cũng như nghiên cứu quốc tế ALARM HF đã làm nổi bật một số đặc điểm dịch tễ và cho chúng ta một cái nhìn rõ hơn về suy tim cấp [119].

II. Thách Thức Trong Điều Trị Suy Tim Cấp Đề Kháng Lợi Tiểu

Mặc dù điều trị bằng lợi tiểu quai, thuốc giãn mạch và oxy là phổ biến, khoảng 25% bệnh nhân suy tim cấp vẫn còn dấu hiệu sung huyết tồn dư khi xuất viện. Đây là yếu tố tiên lượng xấu, liên quan đến tăng tỷ lệ tái nhập viện và tử vong. Thuốc lợi tiểu là nền tảng trong điều trị suy tim cấp có dấu hiệu quá tải dịch và sung huyết, giúp tăng bài tiết muối, nước và giãn mạch. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả của lợi tiểu quai còn nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc đánh giá tình trạng sung huyết sau khi sử dụng. Đề kháng lợi tiểu là một trong những nguyên nhân thường gặp dẫn đến kém đáp ứng và làm giảm hiệu quả giảm sung huyết của lợi tiểu quai, làm tăng các biến cố tim mạch.

2.1. Sung Huyết Tồn Dư Yếu Tố Tiên Lượng Xấu Ở Bệnh Nhân Suy Tim

Có khoảng 25% bệnh nhân suy tim cấp vẫn còn dấu hiệu sung huyết tồn dư lúc xuất viện [85]. Đây là yếu tố tiên lượng xấu liên quan đến gia tăng tỷ lệ tái nhập viện và tử vong [85]. Việc loại bỏ hoàn toàn tình trạng sung huyết là mục tiêu quan trọng trong điều trị suy tim cấp để cải thiện kết quả lâm sàng.

2.2. Vai Trò Của Lợi Tiểu Quai Trong Điều Trị Suy Tim Cấp

Thuốc lợi tiểu là hòn đá tảng trong điều trị suy tim cấp có dấu hiệu quá tải dịch và sung huyết bởi tác dụng tăng bài tiết muối, nước và giúp giãn mạch. Trong đó lợi tiểu quai đường tĩnh mạch được khuyến cáo sử dụng cho tất cả bệnh nhân suy tim cấp có dấu hiệu hay triệu chứng của quá tải dịch để cải thiện triệu chứng.

2.3. Đề Kháng Lợi Tiểu Nguyên Nhân Kém Đáp Ứng Điều Trị Suy Tim

Đề kháng lợi tiểu là một trong những nguyên nhân thường gặp dẫn đến kém đáp ứng và làm giảm hiệu quả giảm sung huyết của lợi tiểu quai, điều này làm gia tăng các biến cố tim mạch [106]. Việc xác định và giải quyết tình trạng đề kháng lợi tiểu là rất quan trọng để tối ưu hóa điều trị suy tim cấp.

III. Bài Xuất Natri Niệu Công Cụ Đánh Giá Đáp Ứng Lợi Tiểu Quai

Để đánh giá đáp ứng sau khi dùng lợi tiểu, các nhà lâm sàng cần một chỉ dấu để hướng dẫn điều trị. Hiện nay, cân bằng xuất nhập, thể tích nước tiểu và mức sụt cân thường được sử dụng. Tuy nhiên, những chỉ dấu này có nhiều hạn chế. Xuất phát từ mục tiêu của điều trị lợi tiểu là đào thải lượng natri dư thừa trong cơ thể (và nước kèm theo), định lượng bài xuất natri niệu gần đây đã trở thành một dấu chỉ mới đang được quan tâm để đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai với giả thuyết bài xuất natri niệu càng thấp thì đáp ứng với lợi tiểu càng kém.

3.1. Hạn Chế Của Các Chỉ Số Đánh Giá Đáp Ứng Lợi Tiểu Truyền Thống

Để đánh giá đáp ứng sau khi dùng lợi tiểu, các nhà lâm sàng cần một chỉ dấu để hướng dẫn cho việc điều trị. Hiện nay, cân bằng xuất nhập, thể tích nước tiểu và mức sụt cân thường được sử dụng. Mặc dù đánh giá cân nặng rất đơn giản nhưng nó lại không đại diện cho sự thay đổi tái phân bố thể tích [100]. Hơn nữa có sự tương quan kém giữa mức độ giảm cân và thể tích nước tiểu ở những bệnh nhân suy tim cấp được điều trị lợi tiểu [100]. Mặc khác, các chỉ dấu này phải cần có thời gian để ghi nhận và dễ sai lệch dẫn đến có khả năng đánh giá trễ.

3.2. Cơ Sở Sinh Lý Của Việc Sử Dụng Bài Xuất Natri Niệu

Xuất phát từ mục tiêu của điều trị lợi tiểu là đào thải lượng natri dư thừa trong cơ thể (và nước kèm theo), định lượng bài xuất natri niệu gần đây đã trở thành một dấu chỉ mới đang được quan tâm để đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai với giả thuyết bài xuất natri niệu càng thấp thì đáp ứng với lợi tiểu càng kém [16],[43],[91],[103].

3.3. Bài Xuất Natri Niệu 6 Giờ Tiên Lượng Tử Vong Ở Bệnh Nhân Suy Tim

Bài xuất natri niệu trong 6 giờ sau khởi động lợi tiểu quai thấp liên quan chặt chẽ với thể tích nước tiểu trong 24 giờ đầu thấp và độc lập liên quan với tử vong do mọi nguyên nhân ở bệnh nhân suy tim cấp [31]. Trong khi lượng bài xuất natri niệu thời khoảng có thể dùng như là một chỉ dấu sớm để đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai và tiên đoán các biến cố bất lợi trên bệnh nhân suy tim cấp [25],[30],[31] thì vai trò của natri niệu một thời điểm cũng được quan tâm vì đây là một xét nghiệm nhanh, đơn giản và thuận tiện.

IV. Natri Niệu Thời Điểm Xét Nghiệm Nhanh Chóng Đánh Giá Đáp Ứng

Trong khi lượng bài xuất natri niệu thời khoảng có thể dùng như là một chỉ dấu sớm để đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai và tiên đoán các biến cố bất lợi trên bệnh nhân suy tim cấp, vai trò của natri niệu một thời điểm cũng được quan tâm vì đây là một xét nghiệm nhanh, đơn giản và thuận tiện. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng tỏ vai trò của natri niệu một thời điểm ở bệnh nhân suy tim cấp với nồng độ natri niệu thấp sau khởi động lợi tiểu quai liên quan đến gia tăng tỷ lệ rối loạn chức năng thận, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tái nhập viện và tử vong.

4.1. Mối Liên Quan Giữa Natri Niệu Thấp Và Các Biến Cố Bất Lợi

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng tỏ vai trò của natri niệu một thời điểm ở bệnh nhân suy tim cấp với nồng độ natri niệu thấp sau khởi động lợi tiểu quai liên quan đến gia tăng tỷ lệ rối loạn chức năng thận, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tái nhập viện và tử vong [16],[44],[64].

4.2. Dự Đoán Kém Đáp Ứng Lợi Tiểu Quai Bằng Mẫu Nước Tiểu

Ngoài ra mẫu nước tiểu một thời điểm có thể dùng để dự đoán nhanh và chính xác tình trạng kém đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp thông qua dự đoán tổng lượng bài xuất natri niệu trong 6 giờ bằng công thức tính [103].

4.3. Khuyến Cáo Của Hội Tim Châu Âu Về Sử Dụng Natri Niệu

Gần đây, một đồng thuận từ Hội Suy Tim của Hội Tim Châu Âu năm 2019 về điều trị lợi tiểu đã đề nghị khảo sát nồng độ natri niệu một thời điểm và/hoặc thể tích nước tiểu ở thời điểm rất sớm sau khởi động lợi tiểu ở bệnh nhân suy tim cấp để hướng dẫn cho việc tiếp cận điều trị ban đầu [75]. Bài xuất natri niệu trong 6 giờ đo được hoặc ước đoán từ mẫu nước tiểu một thời điểm cũng được đề nghị thực hiện phối hợp trong chiến lược tiếp cận điều trị lợi tiểu hiện nay [29].

V. Nghiên Cứu Về Bài Xuất Natri Niệu Trong Suy Tim Cấp Tại Việt Nam

Bài xuất natri niệu là một chỉ dấu triển vọng có thể giúp dự đoán sớm đáp ứng với lợi tiểu quai cũng như tiên lượng kết cục ở bệnh nhân suy tim cấp nhập viện. Từ đó có thể tăng cường hoặc kết hợp lợi tiểu nếu bài xuất natri hay bài niệu không đủ dựa các chỉ dấu này. Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đánh giá vai trò của chỉ dấu này ở bệnh nhân suy tim cấp. Chính vì vậy, cần thực hiện các nghiên cứu để đánh giá vai trò của bài xuất natri niệu trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp.

5.1. Tiềm Năng Của Bài Xuất Natri Niệu Trong Tiên Lượng Suy Tim

Bài xuất natri niệu là một chỉ dấu triển vọng có thể giúp dự đoán sớm đáp ứng với lợi tiểu quai cũng như tiên lượng kết cục ở bệnh nhân suy tim cấp nhập viện. Từ đó có thể tăng cường hoặc kết hợp lợi tiểu nếu bài xuất natri hay bài niệu không đủ dựa các chỉ dấu này.

5.2. Thiếu Nghiên Cứu Về Natri Niệu Trong Suy Tim Cấp Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy có nghiên cứu nào đánh giá vai trò của chỉ dấu này ở bệnh nhân suy tim cấp. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Bài xuất natri niệu trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp”.

VI. Mục Tiêu Nghiên Cứu Đánh Giá Vai Trò Bài Xuất Natri Niệu

Nghiên cứu này nhằm khảo sát vai trò của bài xuất natri niệu trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp. Các mục tiêu cụ thể bao gồm mô tả đặc điểm của bài xuất natri niệu, khảo sát mối liên quan giữa các chỉ dấu bài xuất natri niệu với các thang đo lâm sàng, và khảo sát vai trò của các chỉ dấu bài xuất natri niệu trong tiên đoán biến cố suy tim cấp nặng hơn trong thời gian nội viện.

6.1. Mục Tiêu Tổng Quát Của Nghiên Cứu Về Natri Niệu

Khảo sát vai trò của bài xuất natri niệu trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp.

6.2. Mục Tiêu Cụ Thể Mô Tả Đặc Điểm Bài Xuất Natri Niệu

Mô tả đặc điểm của bài xuất natri niệu (nồng độ natri niệu thời điểm, phân suất thanh thải natri, và bài xuất natri niệu 6 giờ) ở bệnh nhân suy tim cấp có điều trị lợi tiểu quai.

6.3. Mục Tiêu Cụ Thể Liên Quan Giữa Natri Niệu Và Thang Đo Lâm Sàng

Khảo sát mối liên quan giữa các chỉ dấu bài xuất natri niệu với các thang đo lâm sàng (mức sụt cân, cân bằng xuất nhập âm, và thể tích nước tiểu) trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai.

6.4. Mục Tiêu Cụ Thể Tiên Đoán Biến Cố Suy Tim Cấp Nặng Hơn

Khảo sát vai trò của các chỉ dấu bài xuất natri niệu trong tiên đoán biến cố suy tim cấp nặng hơn trong thời gian nội viện.

07/06/2025
Bài xuất natri niệu trong đánh giá đáp ứng lợi tiểu quai ở bệnh nhân suy tim cấp 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ SUY TIM CẤP 1.1 Định nghĩa Theo hướng dẫn của Hội Tim Mạch Châu Âu 2016 về chẩn đoán và điều trị suy tim, suy tim cấp là một hội chứng lâm sàng trong đó các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng suy tim xuất hiện mới hoặc nặng lên, đây là tình trạng đe dọa tính mạng thường dẫn đến nhập viện khẩn cấp, cần được chẩn đoán và điều trị sớm [83].2 Phân loại Có nhiều cách phân loại suy tim cấp dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau đã được đề nghị. Theo định nghĩa trên, bệnh nhân suy tim cấp nhập viện có thể chia làm 2 bệnh cảnh lâm sàng chính là suy tim cấp mới khởi phát (STCMKP) hay thường gặp hơn là đợt mất bù cấp trên nền suy tim mạn (ĐMBCSTM) trước đó [83]. Theo hướng dẫn của Hội Tim Châu Âu năm 2008, suy tim cấp có thể chia thành 6 thể lâm sàng: choáng tim, suy tim cấp do tăng huyết áp, suy tim với hội chứng động mạch vành cấp, suy tim phải đơn độc, phù phổi cấp và đợt mất bù suy tim mạn [34]. Tuy nhiên cách phân loại này có nhiều hạn chế do sự trùng lắp của các thể dẫn đến khó khăn trong chẩn đoán và quyết định điều trị.

Dựa vào các biểu hiện lâm sàng khác nhau, suy tim cấp có thể chia thành 5 bệnh cảnh cần điều trị chuyên biệt dựa vào đặc điểm huyết động học lúc nhập viện: suy tim cấp tăng huyết áp, suy tim cấp tiến triển có huyết áp bình thường, suy tim cấp tiến triển có tụt huyết áp, hội chứng động mạch vành cấp, suy tim phải cấp [105]. Trong đó suy tim cấp có huyết áp tâm thu (HATTh) cao (> 140 mmHg) hay bảo tồn (90 - 140 mmHg) thường gặp hơn; 5-8% bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (< 90 mmHg) liên quan đến tiên lượng xấu, nhất là khi có giảm tưới máu cơ quan [83].3 Dịch tễ Suy tim cấp là một gánh nặng lớn ở các quốc gia đang phát triển, là lý do nhập viện hàng đầu ở những bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi. Suy tim cấp thường là lý do nhập viện đầu tiên ở người cao tuổi, với khoảng 1 triệu lượt nhập viện mỗi năm tại Hoa Kỳ, và con số này tương tự như ở châu Âu [10]. Nhiều nghiên cứu ở châu Âu và Mỹ, cũng như nghiên cứu quốc tế ALARM HF đã làm nổi bật một số đặc điểm dịch tễ và.

5 cho chúng ta một cái nhìn rõ hơn về suy tim cấp [119]. Độ tuổi trung bình của những bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp dao động từ 70-73 tuổi với ngoại lệ là các quốc gia ở châu Phi và Ấn Độ, độ tuổi này thấp hơn lần lượt là 52,3 tuổi và 61,2 tuổi [119]. Nam và nữ có tỷ lệ ngang nhau, số bệnh nhân có tiền sử đã được chẩn đoán suy tim trước nhập viện chiếm đa số. ĐCMBSTM là thể lâm sàng thường gặp nhất ở những bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp (Bảng 1.

STCMKP chiếm khoảng 1/3 trường hợp [45],[78]. Bệnh nhân STCMKP có tỷ lệ tử vong cao hơn so với bệnh nhân đã có đợt suy tim cấp trước đó (14,2% với 10,8%; P=0,0007) [45].1 Các thể lâm sàng suy tim cấp của 2 nghiên cứu EHFS II và ALARM- HF “Nguồn: Follath F, 2011 [45]; Nieminen M. Tỷ lệ tử vong nội viện thay đổi từ 4% đến 7% và tương tự nhau dù là suy tim có phân suất tống máu (PSTM) giảm hay bảo tồn [41], 10-15% có suy tim cấp nặng hơn (STCNH) nội viện [72]. Sau ra viện, tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày là 11,2% theo nghiên cứu ADHERE [6], tỷ lệ tử vong trong vòng 2-3 tháng là 7-11% [41] và chạm đến 36% trong vòng 1 năm [6].

Mặc dù đã có những nỗ lực nhằm giảm tỷ lệ tái nhập viện vì suy tim cấp, tỷ lệ này sau 30 ngày vẫn còn cao, cụ thể là 22,1% theo nghiên cứu ADHERE [6], sau 2-3 tháng khoảng 25-30% (Hình 1. Tỷ lệ tái nhập viện không khác nhau giữa 2 nhóm bệnh nhân có PSTM giảm và bảo tồn [47]. Với mỗi lần tái nhập viện sau đó liên quan với gia tăng tỷ lệ tử vong tích lũy [89].1 Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân > 65 tuổi nhập viện vì suy tim từ nghiên cứu ADHERE và những người hưởng hoa lợi từ chương trình MEDICARE ở Mỹ (NON-ADHERE) “Nguồn: Kociol R. Có khoảng 69% tổng số chi phí liên quan đến suy tim nhập viện trong khi chi phí cho thuốc chỉ chiếm 18% [11].

Bệnh đồng mắc rất thường gặp ở bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp, bao gồm tăng huyết áp (> 70%), bệnh mạch vành (57%), đái tháo đường (50-70%), rung nhĩ (31%), và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (30%), và các bệnh lý khác [19]. Những bệnh đồng mắc này liên quan với gia tăng tỷ lệ tử vong nội viện, bất kể PSTM. Một phân tích trên những bệnh nhân suy tim cấp > 65 tuổi cho kết quả có 40% có hơn 5 bệnh đồng mắc đi kèm, dẫn đến việc sử dụng tài nguyên nhiều hơn và kéo dài thời gian nằm viện [19].4 Sinh lý bệnh sung huyết ở bệnh nhân suy tim cấp Suy tim cấp không phải là một bệnh lý đơn độc mà là một hội chứng lâm sàng, là một nhóm không đồng nhất với đa dạng bệnh lý tim nền tảng và các bất thường. Thêm vào đó, mức độ nặng của suy tim cấp là một phổ rộng từ tình trạng quá tải dịch nhẹ cho đến sốc tim, và vì vậy, không có một mô hình sinh lý bệnh đơn độc nào có thể giải thích cho sự đa dạng của các biểu hiện lâm sàng.

Thật vậy, sinh lý bệnh của. 7 suy tim cấp là kết quả của sự tương tác giữa bệnh lý tim nền, cơ chế khởi phát ban đầu và cơ chế khuếch đại. Suy tim cấp có thể xảy ra trên một chức năng/cấu trúc tim nền tảng bất thường hay bình thường. Cơ chế khởi phát ban đầu thay đổi và tương tác với bệnh lý tim nền, có thể do tình trạng xấu đi cấp tính hoặc bán cấp của chức năng tim hoặc do các cơ chế ngoài tim.

Tình trạng này có thể đủ nặng để gây ra suy tim cấp trên bệnh nhân có chức năng/cấu trúc tim bình thường trước đó, hoặc có thể đóng vai trò thúc đẩy gây ra tình trạng mất bù trên bệnh nhân có bệnh lý tim nền bất thường. Cơ chế khuếch đại bao gồm hoạt hóa hệ thần kinh thể dịch, tình trạng viêm và stress oxy hóa, tổn thương cơ tim tiến triển, suy giảm chức năng thận, rối loạn chức năng của mạch máu/ nội mô góp phần thúc đẩy và làm xấu hơn bệnh cảnh suy tim cấp [48]. Tất cả cơ chế này đều gây rối loạn huyết động, trong đó sung huyết là đặc điểm nổi bật ở hầu hết bệnh nhân suy tim cấp. Sung huyết ở bệnh nhân suy tim được định nghĩa là những dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng tích tụ dịch ở khoang ngoại bào do tăng áp lực đổ đầy thất [67].

Sung huyết phổi hay hệ thống thường gây ra bởi tăng áp lực tâm trương tâm thất, dẫn đến biểu hiện lâm sàng ở hầu hết bệnh nhân suy tim cấp. Sung huyết có thể được coi là con đường chung cuối cùng dẫn đến sự tăng dần của thể tích nội mạch và gây ra triệu chứng lâm sàng khiến bệnh nhân phải nhập viện. Nhìn chung, có hai cơ chế chính gây ra tăng áp lực đổ đầy thất trái (ALĐĐTT) là tình trạng tích tụ dịch và tái phân bố dịch. Quá trình tăng giữ muối nước do cơ chế thần kinh thể dịch và rối loạn chức năng thận gây tăng thể tích huyết tương, ngoài ra tái phân bố dịch từ tuần hoàn tạng vào tuần hoàn hệ thống do cơ chế mạch máu gây tăng thể tích hiệu quả đều gây ra tình trạng sung huyết.

Mặc dù một số dữ liệu cho rằng tăng cân thường xuất hiện trước tình trạng mất bù và nhập viện vì suy tim, thì một số nghiên cứu khác có sử dụng thủ thuật xâm lấn để theo dõi huyết động và cho rằng tăng ALĐĐTT xuất hiện trước cả tăng cân [116]. Phát hiện này dẫn đến mối quan tâm đến khái niệm tái phân bố tuần hoàn và vai trò huyết động của mạch máu như là một cơ chế đưa đến tình trạng mất bù của suy tim, tích tụ dịch đơn thuần không giải thích được toàn bộ cơ chế bệnh sinh của suy tim cấp. Thực tế đa số bệnh nhân suy tim cấp tăng cân không đáng kể (<1kg) trước khi nhập viện [22],[115],[116]. 8 những bệnh nhân này, tình trạng sung huyết thường khởi phát trước tiên bởi tái phân bố dịch hơn là tích tụ dịch.

Trong khi tình trạng tích tụ dịch thường gặp ở những bệnh nhân với đợt mất bù cấp của suy tim có PSTM giảm, thì cơ chế tái phân bố dịch có vẻ nổi trội hơn ở những bệnh nhân có PSTM bảo tồn [86]. Theo đó, chiến lược điều trị giảm sung huyết cũng khác nhau tùy theo cơ chế nào ưu thế, nếu lợi tiểu là điều trị then chốt đối với cơ chế tích tụ dịch thì điều trị giãn mạch được ưu tiên hơn trong cơ chế tái phân bố dịch nhằm điều hòa đồng bộ giữa tâm thất và mạch máu [83]. Một khái niệm quan trọng nữa là sự khác nhau giữa “sung huyết lâm sàng” và “sung huyết huyết động”. Mặc dù bệnh nhân biểu hiện với các dấu hiệu và triệu chứng của sung huyết lâm sàng như khó thở, ran phổi, tăng áp lực tĩnh mạch cảnh và phù, thì tình trạng này thường xảy ra sau sung huyết huyết động, được định nghĩa là tăng ALĐĐTT mà không có triệu chứng lâm sàng đáng kể.

Tương tự, sung huyết trên lâm sàng có thể cải thiện với điều trị lợi tiểu quai ban đầu nhưng sung huyết huyết động vẫn có thể còn, điều này dẫn đến tăng nguy cơ tái nhập viện [94].5 Chẩn đoán suy tim cấp Quá trình chẩn đoán được khuyến cáo bắt đầu trước cả nhập viện và tiếp tục ở khoa cấp cứu để xác định kịp thời và khởi động điều trị thích hợp. Song song đó, việc nhận diện và điều trị ngay lập tức các tình trạng lâm sàng và/hoặc yếu tố thúc đẩy đe dọa tính mạng là quan trọng [83].1 Lâm sàng Chẩn đoán ban đầu suy tim cấp được khuyến cáo chủ yếu dựa vào bệnh sử đầy đủ, tiền sử bệnh tim mạch, đánh giá các triệu chứng, các yếu tố thúc đẩy do tim hoặc không do tim, cũng như đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng của sung huyết và/hoặc giảm tưới máu bằng khám thực thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Đánh Giá Bài Xuất Natri Niệu Trong Điều Trị Suy Tim Cấp cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của bài xuất natri niệu trong việc điều trị suy tim cấp. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá chính xác bài xuất natri niệu để xác định tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, từ đó giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị hiệu quả hơn. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm việc hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của natri niệu và cách nó ảnh hưởng đến tình trạng tim mạch, cũng như các phương pháp điều trị hiện có.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các xét nghiệm và đánh giá chức năng cơ thể trong điều trị, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu một số xét nghiệm hóa sinh máu đánh giá chức năng thận trên bệnh nhân ghép thận trong 8 ngày sau ghép tại bệnh viện bạch mai. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu thêm về các xét nghiệm hóa sinh và cách chúng có thể hỗ trợ trong việc theo dõi và điều trị bệnh nhân.