Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Các văn bản của Trung ương - Luật Đất đai 2003. - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. - Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. - Thông tư số 10/2008/TT-BXD ngày 22 tháng 04 năm 2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu.
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất. - Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/05/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất lúa. Các văn bản của tỉnh Thái Nguyên - Quyết định số 930/2009/QĐ-UBND ngày 14 tháng 04 năm 2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc quy định một số nội dung cụ thể 5 trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai áp dụng trên địa bàn thị xã Sông Công. - Quyết định số 628/2010/QĐ-UBND ngày 08 tháng 04 năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định một số chính sách cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Quyết định số 3466/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt kế hoạch lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 các cấp tỉnh Thái Nguyên. - Quyết định số 2149/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020. - Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 13/01/2011 của Chính Phủ về việc giải thể các thị trấn Nông trường và điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập các thị trấn: Bắc Sơn thuộc huyện Phổ Yên, Sông Cầu thuộc huyện Đồng Hỷ, Quân Chu thuộc huyện Đại Từ, thành lập phường Tích Lương thuộc thành phố Thái Nguyên và phường Bách Quang thuộc thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1.
Đô thị Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ/CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau Thứ nhất: là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000 người trở lên. 6 Thứ ba: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển. Thứ tư: có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị.
Thứ năm: có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/Km2 trở lên [13]. Đô thị hóa Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình ĐTH và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này. “Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào cáo đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa. Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị” [9].
“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố. Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đáp ứng nhũng nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội, góp phần làm tăng GDP nhưng điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng” [9]. Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật. Đất đô thị và quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa 1.
Quan điểm về đất đai đô thị 1. Phân loại đất đô thị Đất đô thị có thể phân thành hai loại: 7 - Đất đai thành phố: là đất nội thành, nội thị được sử dụng để xây dựng các khu đô thị, các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các công trình đô thị khác. - Khu quy hoạch phát triển đất đai thành phố: bao gồm diện tích đất nông nghiệp, đất khu vực dân cư nông thôn lân cận ngoại ô thành phố và các loại đất khác nằm trong quy hoạch dự kiến chuyển thành đất thành phố. Theo quy định tại điều 1 nghị định số 91/NĐ-CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ về việc “ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị”, đô thị bao gồm các thành phố, thị xã, thị trấn.
Theo quy định này, đất đô thị là diện tích đất nằm trong ranh giới hành chính của các thành phố, thị xã, thị trấn. Nghị định số 88/NĐ - CP ngày 07/08/1994 của Chính phủ về quản lý và sử dụng đất đô thị còn quy định: “Đất ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng được quản lý như đất đô thị”. Xét về góc độ kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất chủ yếu được dùng để xây dựng và phát trỉên các công trình đô thị, đó là loại đất đã chứa những khoản đầu tư lớn trong quá trình khai thác đất đai thành thị, vì vậy có sức sản xuất cao, có giá trị sử dụng rất lớn. Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa QHSX và LLSX, mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong đó có sở hữu đất đai được, quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đất đô thị là loại đất mang lại địa tô chênh lệch cao cho chủ sở hữu đất, trong khi phát triển đô thị là nhu cầu tất yếu của quá trình CNH - HĐH đất nước. Khi nói về đất đô thị, C.Mác viết: “Thật ra người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ so với sự phân tán của thủ công nghiệp, và chính đại công nghiệp đã làm như vậy” [2] và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “việc mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai” [2]. Đối với những đô thị như thị xã Sông Công, quá trình ĐTH diễn ra khá nhanh ở cả hai khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Trong các khu vực đô thị cũ, quá trình ĐTH (sắp xếp và cải tạo đô thị) nhằm hiện đại hoá đô thị, trên cơ sở cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật (HTKT) đô thị kết hợp với phân bố lại quỹ đất và bố trí hợp lý các công trình đô thị.
Đồng thời với việc nâng cấp, HĐH các khu đô thị cũ là quá trình xây dựng các khu đô thị mới, 8 quá trình này đòi hỏi chuyển một diện tích đất từ các loại đất khác thành đất đô thị để phát triển đô thị, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH. Tuy nhiên quá trình ĐTH không phải là quá trình chuyển mục đích SDĐ của toàn bộ diện tích đất khác thành đất phi nông nghiệp, một phần diện tích đất nông nghiệp vẫn được giữ lại nhằm đảm bảo môi trường sinh thái cho đô thị và tạo ra không gian thẩm mỹ cho đô thị. Như vậy QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH, không chỉ đơn thuần là quản lý đất đô thị, mà còn bao gồm diện tích đất quy hoạch phát triển đô thị và diện tích đất nông nghiệp trong đô thị. Tuy vậy đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản quy định nào đưa ra tiêu chuẩn về cơ cấu giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp trong đô thị.
Đặc trưng cơ bản của đất đô thị Đã có nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước về những đặc trưng của đất đô thị. Ví dụ Bồ Tây (nhà kinh tế học Trung Quốc) cho rằng đặc trưng quan trọng của đất đô thị là sức chịu tải; tính tập trung giá trị; tính không thay thế về chức năng… hoặc có người cho rằng đặc trưng quan trọng của đất đô thị là diện tích đất phi nông nghiệp là chủ yếu… Tuy nhiên, sức chịu tải không phải là đặc tính riêng của đất đô thị, vì đất đồi núi, trung du… có sức chịu tải rất tốt, cao hơn cả đất đô thị. Còn nếu nói đất đô thị là diện tích đát phi nông nghiệp là chủ yếu thì đó là phân loại đất, không phải đặc trưng của đất đô thị [7]. Ở nội dung này, chúng tôi xin đưa ra một số đặc trưng cơ bản của đất đô thị như sau: (1) Đất đô thị nước ta được hình thành trong quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá mà vai trò chủ đạo là đầu tư của Nhà nước.
ĐTH là quá trình phát triển mang tính tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội loài người và do con người chủ động tiến hành. Tiền đề cho quá trình ĐTH là sự phát triển của sức sản xuất nông nghiệp.