Đặt vấn đề Vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, rừng giữ vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống. Rừng cây xanh bạt ngàn là lá phổi khổng lồ thanh lọc không khí, cung cấp nguồn dưỡng khí duy trì sự sống cho con người. Có loại rừng chắn gió, chắn cát ven biển. Có loại rừng ngăn nước lũ trên núi.
Rừng giúp con người hạn chế thiên tai. Đặc biệt, rừng là khu bảo tồn thiên nhiên vô giá với hàng ngàn loài chim, loài thú quí giá, là nguồn đề tài nghiên cứu bất tận cho các nhà sinh vật học. Rừng ngập mặn là bức tường thành ngăn chặn bão gió, sóng thần, lũ lụt, … Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, rừng cung cấp gỗ củi, nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ,các loại đặc sản lâm sản ngoài ngỗ. Hiện nay sản lượng gỗ lấy ra từ rừng tự nhiên còn ít trong khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm được chế biến từ gỗ của con người vẫn không ngừng tăng, gỗ vẫn là nguồn nguyên liệu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày.
Để đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy xí nghiệp và bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà Nước ta đã bàn hành nhiều chính sách chủ chương nâng cao độ che phủ rừng với nhiều dự án đề ra như dự án 661, dự án 327, dự án PAM và các dự án đầu tự và bảo vệ rừng khu vực niềm núi… Keo tai tượng là một trong những loài cây đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và hướng tới. Đây là loài cây đã được xác định là thích hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở Việt Nam và có diện tích gây trồng tương đối lớn trong các chương trình trồng rừng. Loài cây này có chu kỳ kinh doanh ngắn, gỗ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như làm giấy, ván dăm, ván sợi. Keo tai tượng là loài cây lá rộng, mọc nhanh, mọc được trên nhiều loại 2 đất, có biên độ sinh thái rộng, phù hợp cho trồng rừng trên quy mô lớn.
Ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy, ván nhân tạo, gỗ của loài cây này còn được sử dụng cho các mục đích khác như xây dựng, đồ gỗ, trang trí nội thất, gỗ củi. Đây cũng là loài cây có nốt sần chứa cả Rhizobium và Bradyrhiobium, có khả năng tổng hợp nitơ tự do trong không khí rất cao có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu đất đai ở nước ta từ vùng cát ven biển tương đối khô hạn đến vùng núi thấp dưới 400m ở Tây Nguyên. Từ năm 1980, nhiều địa phương của Tại Thái Nguyên Keo được trồng tương đối nhiều do đặc điểm điều kiện tự nhiên thuận phù hợp với sinh trưởng của cây Keo. Việc trồng Keo mang lại thu nhập rất đáng kể cho người dân vì không tốn quá nhiều công chăm sóc mà hiệu quả lại cao.
Cũng như ở các khu vực khác bệnh trên cây Keo cũng khá phổ biến tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu hiện nay các bệnh ở cây Keo xuất hiện khá phổ biến như bệnh phấn trắng lá Keo, Bệnh bồ hóng do nấm Meliola spp… tuy nhiên gần đây ở các khu rừng trồng Keo sản xuất đang xuất hiện cây bị chết hàng loạt qua đánh giá ban đầu được cho là do nấm ceratocystis gây ra, việc nghiên cứu về loại nấm này còn hạn chế. Nhận thấy sự ảnh hưởng của nấm Ceratocystis spp ảnh hưởng rất lớn đến cây Keo tôi quyết định nghiên cứu đề tài : “Đánh giá ảnh hưởng của lượng mưa tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd ) tại Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của lượng mưa tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd ).
Phát hiện được bệnh và làm quen được với công tác điều tra 3 1. Ỹ nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong khoa học Việc nghiên cứu đề tài giúp sinh viên thu thập được kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học và thực hiện một đề tài tốt nghiệp. Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có kiến thức vững vàng để bước vào cuộc sống sau này.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Từ việc nghiên cứu ảnh hưởng của lượng mưa mưa tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd ) tại Thái Nguyên ta có thể áp dụng trong công tác sản xuất, chăm sóc và nuôi dưỡng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học Trong cùng một điều kiện lập địa thì nhân tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây Keo tai tượng. Keo tai tượng thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ bình quân 29-300C. Chỉ chịu được sương giá nhẹ, lượng mưa 1000-4500mm/năm và không có mùa khô kéo dài. Độ ẩm cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây Keo, do khí hậu ở Miền Bắc nước ta thuộc kiểu nhiệt đới ẩm mưa nhiều nên nhiều loài Keo gần đây đã xuất hiện nhiều loài nấm bệnh gây hại tới cây trồng nói chung cũng như cây keo nói riêng.
Việc nghiên cứu về các bệnh hại cây trồng trong lâm cũng được quan tâm nhiều hơn và được đầu từ nhiều hơn trong việc phòng trừ sâu bệnh hại nhằm góp phần làm giảm làm tăng năng suất cũng như chất lượng của rừng trồng. Diện tích rừng trồng Keo đã và đang tăng mạnh ở Việt Nam trong thập kỷ qua. Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm là những loài cây được gây trồng chính trên phạm vi cả nước. Trong cùng một điều kiện khí hậu, đất là nhân tố quyết định đến sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản lượng rừng và tính ổn định của rừng.
Độ phì của đất còn ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống của rừng. Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên hình thành đất, có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm sinh lý học và hóa học của đất, thông qua đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Keo tai tượng. Keo tai tượng là cây gỗ nhỡ sinh trưởng nhanh có nguồn gốc từ Úc được nhập vào nước ta từ những năm 1960, nhưng từ năm 1976 trở lại đây mới được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng trong cả nước. Keo tai tượng là loài cây 5 đa mục đích dễ gây trồng, có giá trị nhiều cả về mặt kinh tế lẫn phòng hộ bảo vệ môi trường.
Đặc biệt trong chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng, Keo tai tượng là một trong những loài cây trồng chính để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và cũng là những cây cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp lấy sợi trong những năm qua. ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay Keo đang là cây Lâm nghiệp được phổ biến ở hầu hết các tỉnh do Keo hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm. tuy nhiên gần đây các loại bệnh xuất hiện trên cây Keo cũng rất nhiều và làm ảnh hưởng đến cây trồng của người dân một số bệnh như phấn trắng, gỉ sắt, thán thư cũng xuất hiện khá phổ biến ở cây Keo xong hiện tượng gây chết héo ở cây gần đây đang xuất hiện khá phổ biến ở Việt Nam và được cho là do nấm ceratocystis gây nên. Để hạn chế được mức thấp nhất hiện tại thì phải tìm ra nguyên nhân và cách hạn chế bệnh chính vì vậy đề tài này sẽ giúp một phần nào đó để thực hiện được điều đó.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về gây trồng keo tai tượng Chi Keo (Acacia) có khoảng 1.200 loài phân bố tự nhiên ở khắp các Châu lục. Song tập trung nhiều và phát triển tốt ở Châu Phi và Châu Úc.
Riêng ở Ôxtrâylia có tới 850 loài, trong đó có hàng trăm loài có kiểu lá giả như Keo tai tượng. Trong vài ba thập kỉ gần đây ở vùng nhiệt đới Châu Á, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, các loài Keo nhập từ Ôxtrâylia đóng một vai trò rất quan trọng trong các chương trình trồng rừng, trong đó nổi bật là Keo lá tràm và Keo tai tượng (Acacia mangium). Chi Keo là một chi của một số loài cây thân bụi và thân gỗ có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc họ 6 Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên được Linnaeus miêu tả năm 1773 tại châu Phi. Hiện nay, người ta biết khoảng 1.300 loài cây Keo trên toàn thế giới trong đó Khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia , và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á, châu Mỹ.
Keo tai tượng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng. Keo tai tượng rất kén đất đòi hỏi đất phải tốt và sâu ẩm. Là cây họ đậu nên Keo tai tượng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện điều kiện môi trường, ngày nay loài cây này đang được mở rộng ở nhiều nước, điển hình như Inđônêxia, Malaixia, Philippin,Thái Lan, Ấn độ, Nigiêria, Tanzania, Băng-la-đét, Trung quốc, Mỹ. Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Đông và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau nương rãy.
Ở Inđônêxia Keo tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940. Ở Thái Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến năm 1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh. Năm 1961 Trung Quốc đã nhập khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có triển vọng và được gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tượng Tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng. Nhưng nhìn chung ở những nơi có lượng mưa trên 2000mm, đất giầu dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể đạt trên 2,5m/năm.
Ở những nơi đất đai xấu khả năng sinh trưởng thường rất kém, chiều cao bình quân chỉ đạt khoảng 1,0m/năm, nhất là vùng miền tây Bengan của Ấn độ chỉ đạt dưới 0,5m/năm.