ĐẶT VẤN ĐỀ Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là vấn đề đƣợc cả thế giới quan tâm với biểu hiện chủ yếu là hiện tƣợng ấm lên toàn cầu (Công ƣớc khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC, 1992)). Sự ấm lên toàn cầu đã và đang tác động mạnh mẽ đến hệ thống khí hậu và các hệ sinh thái trên trái đất, ảnh hƣởng trực tiếp đến các hoạt động kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam coi ứng phó với thích ứng biến đổi khí hậu là sống còn, BĐKH gây ảnh hƣởng đến nhiều mặt trong đó có đa dạng sinh học, đó là một trong các thành phần bị tác động trực tiếp và để lại nhiều hậu quả rõ rệt. BĐKH làm thay đổi điều kiện môi trƣờng sống cũng nhƣ gây ảnh hƣởng đến sự sinh sản và phát triển của các loài.Dƣới ảnh hƣởng của BĐKH các loài sinh vật phải thay đổi phạm vi phân bố về 2 cực hoặc di chuyển đến khu vực cao hơn để tìm kiếm khu vực có khí hậu phù hợp (Root và Schneider, 2002).
Từ thực tế việc đánh giá và dự đoán của BĐKH đến phân bố của một loài sinh vật nào đó là hết sức quan trọng. Mô hình ổ sinh thái (ENMs) là công cụ rất hiệu quả cho mô phỏng vùng phân bố của các loài với dữ liệu đầu vào gồm các dữ liệu về sự có mặt hoặc vắng mặt đƣợc ghi nhận từ ngoài thực tế và các dữ liệu về môi trƣờng. Đây là một công cụ thƣờng xuyên đƣợc dùng để đánh giá vùng phân bố thích hợp của các loài, từ đó chúng ta có thể sử dụng chúng phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn, hoặc điều tra thực địa (Pearson, 2008). Trong đó, mô hình MaxEnt là một trong những mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến để đánh giá vùng phân bố tiềm năng của loài.
Vƣợn đen tuyền tây bắc là một trong những loài vƣợn đƣợc ghi nhận tại Việt Nam, chúng đƣợc xếp vào bậc nguy cấp (EN) trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và danh sách các loài cần đƣợc bảo vệ của ngành lâm nghiệp (Phụ lục IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính Phủ). Vƣợn đen tuyền tây bắc là loài linh trƣởng có vùng phân bố hẹp ở Tây Nam Trung Quốc, Tây Bắc Lào và miền Bắc Việt Nam (Geissmann và cs.Đặc biệt, các loài có vùng phân bố hẹp thƣờng bị tác động nặng nề bởi BĐKH hơn so với các loài có vùng phân bố rộng (Levisky và cs. Dƣới tác động mạnh mẽ của BĐKH, vùng phân bố của các loài Vƣợn có thay đổi? Điều kiện sinh thái ở các khu bảo tồn có phù hợp với loài vƣợn khi biến đổi xảy 1 ra? Và khu vực nào trong tƣơng lai sẽ phù hợp với chúng? Để tập trung trả lời các câu hỏi trên, khóa luận đã sử dụng mô hình ổ sinh thái để nghiên cứu đề tài “ Đánh giá ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến vùng phân bố của loài Vƣợn đen tuyền tây bắc (Nomascus concolor)”. Khóa luận sẽ tập trung mô phỏng vùng phân bố trong tƣơng lai của loài, từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu sau này.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Họ Vƣợn - Hylobatidae Họ Vƣợn bao gồm các loài thú cỡ nhỏ và cỡ trung bình (chiều dài cơ thể từ 38- 65cm), không có đuôi, tay dài quá đầu gối. Bộ lông cá thể đực màu đen, cá thể cái có màu vàng tƣơi hoặc vàng nhạt (Nguyễn Xuân Đặng và cs. Tất cả các loài Vƣợn đều phát ra tiếng hót rất lớn vào buổi sáng sớm.
Tiếng hót của Vƣợn mang đặc trƣng giới (đực và cái). Ở hầu hết các loài, mỗi cặp đực và cái thƣờng phối hợp tiếng hót với nhau. Chức năng chủ yếu của tiếng hót để xác lập vùng lãnh thổ của mình, thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ gia đình (Nguyễn Xuân Đặng và cs. Các nghiên cứu trƣớc đây về phân loại Vƣợn chia thành hai nhóm: Symphalangus và Hylobates.
Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xƣơng sọ và âm thanh đã phân họ Vƣợn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44 (Geissmann và cs. Thú họ Vƣợn phân bố ở hầu khắp các khu rừng nhiệt đới Đông Nam Á. Ở Việt Nam, chỉ có giống duy nhất là giống Vƣợn mào (Nomascus).
Vƣợn mào nặng khoảng 7-8kg. Vƣợn đực có mình đen, đỉnh đầu có chóp lông nhọn, cao (mào). Dƣơng vật có mấu xƣơng dài (8-12mm) và thƣờng có mấu ở đầu. Vƣợn cái màu vàng tƣơi hoặc vàng nhạt, trên đỉnh đầu có đám lông đen.
Lông trên đỉnh đầu mọc thẳng đứng nhƣng không tạo thành mào. Con non mới sinh, cả con đực và cái đều có màu vàng sáng, gần giống với màu lông của Vƣợn cái trƣởng thành. Đến một năm tuổi hoặc sang năm tuổi thứ 2, bộ lông chuyển sang màu đen giống lông của vƣợn đực trƣởng thành. Riêng Vƣợn cái mang bộ lông đen cho đến khi chuẩn bị trƣờng thành sinh dục (5-8 tuổi) mới đổi sang màu vàng đặc trƣng của Vƣợn cái trƣởng thành (Nguyễn Xuân Đặng và cs.
Cũng giống nhƣ theo phân loại học về thú Linh trƣởng, các tác giả khác nhau cũng đƣa ra những quan điểm khác nhau về số lƣợng loài thuộc giống Nomascus. Theo Thomas Geissmann và cộng sự (2000), giống Nomascus bao gồm 5 loài: 3 1. Vƣợn đen (chƣa định tên) Nomascus. Vƣợn đen tuyền (Nomascus concolor) 3.
Vƣợn má trắng siki (N. gabriellae) Theo Văn Ngọc Thịnh và cộng sự (2010) tại Việt Nam có 6 loài thuộc giống Nomascus đƣợc liệt kê gồm: Tên Việt Nam Tên Khoa học 1. Vƣợn đen tuyền/ Vƣợn đen tuyền tây bắc Nomascus concolor 2. Vƣợn đen cao vít/ Vƣợn đen tuyền đông bắc Nomascus nasutus 3.
Vƣợn đen má trắng Nomascus leucogenys 4. Vƣợn siki Nomascus siki 5. Vƣợn má vàng phía bắc/ Vƣợn trƣờng sơn Nomascus annamensis 6. Vƣợn má vàng phía nam Nomascus gabriellae Vùng phân bố của giống Nomascus Các loài Vƣợn phân bố ở khắp các khu vực rừng mƣa nhiệt đới Đông Nam Á, trong khi các loài Vƣợn mào (giống Nomascus) chỉ phân bố ở Đông Dƣơng và phía Nam Trung Quốc.
Còn phía Tây của sông Mekong lại là vùng phân bố của một nhánh khác thuộc giống Hylobates.1: Phân bố của các loài Vƣợn thuộc giống Nomascus (Nguồn: Văn Ngọc Thịnh và cs., 2010) Có thể thấy, vùng phân bố của các loài Vƣợn là một khu vực rộng lớn và liên tục, có lẽ đây là khu vực phân bố ban đầu của chúng.Tuy nhiên, do hậu quả của việc mất sinh cảnh, cũng nhƣ nạn săn bắt của con ngƣời, nên vùng phân bố của chúng bị chia cắt mạnh. Hiện nay, các loài Vƣợn chỉ còn sót lại tại một số mảng rừng nguyên sinh, ít tác động của con ngƣời.Các trạng thái này hiện khá biệt lập và có diện tích rất nhỏ. Đề tài đã chọn đối tƣợng nghiên cứu là loài Vƣợn đen tuyền tây bắc. Đây là loài Vƣợn quý hiếm của khu vực Đông Dƣơng nói chung và Việt Nam nói riêng.
Số lƣợng các cuộc điều tra thực địa và dữ liệu ghi nhận về loài này khá phong phú, đảm bảo dữ liệu đƣợc đầy đủ và chính xác.Bên cạnh đó, loài VĐTTB đƣợc phân bố ở vùng Tây Bắc của Việt Nam nên lựa chọn loài này làm đối tƣợng nghiên cứu sẽ giúp cho đề tài đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của BĐKH trên một diện tích rộng. Vƣợn đen tuyền tây bắc Vƣợn đen tuyền tây bắc có tên khoa học là Nomascus concolor (Harlan, 1826) thuộc chi Nomacus, họ Vƣợn Hylobatidae, nằm trong Bộ Linh trƣởng Primates. Có tên tiếng anh là Westen Back Crested Gibbon. Và một số tên khác nhƣ: Vƣợn cụt đuôi (Việt), Tu chao vật (Tày), Tu chà ní (Thái), Chuối (Mèo) Hình 1.2: Vƣợn đen tuyền tây bắc (Nguồn: arkive.org) Đặc điểm nhận biết Vƣợn đen tuyền tây bắc có thân hình thon mảnh, chân tay dài, không có đuôi.
Con đực trƣởng thành màu đen tuyền. Một số lông trắng đơn lẻ có thể xuất hiện ở góc miệng. Con cái trƣởng thành màu vàng nhạt, vàng, cam, nâu be hoặc trắng đục. Con cái trƣởng thành thƣờng có đốm đen ở đỉnh đầu và ở dƣới ngực.
Vƣợn đen non có màu vàng nhạt (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Sinh học sinh thái Vƣợn đen tuyền tây bắc kiếm ăn trên cây cao. Thức ăn là lá cây, chồi non, quả cây và côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ. Bắt đầu sinh sản vào năm thứ 7 - 8 ,thời gian có chửa 7 - 8 tháng.
Hai năm đẻ một lần, mỗi lần đẻ một con.Vƣợn đen thƣờng sống trong sinh cảnh rừng già trên đỉnh núi cao.Thƣờng sống trong các khu rừng nguyên sinh nhất.Không sống trong rừng thƣa, rừng tre lứa.Vƣợn sống thành từng nhóm nhỏ nhƣ một gia đình, gồm một đực già, 1 - 2 con cái và các con của chúng.Một nhóm có một khu vực cƣ trú riêng tách biệt với các nhóm khác. Đôi khi gặp những nhóm nhỏ tách khỏi đàn để lập nhóm mới, hoạt động vào ban ngày và tích cực nhất vào sáng sớm và chiều tối. Trƣa và ban đêm ngồi nghỉ trên ngọn cây. Thƣờng hay kêu hú vào sáng sớm (Sách đỏ Việt Nam, 2007).
6 Phân bố Trong nƣớc: Tây Bắc Việt Nam, Bắc Kạn (Na Rì), Quảng Ninh, Thanh Hoá (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Thế giới: Phía Nam Trung Quốc, phía Bắc Lào. Giá trị Làm vật mẫu, đối tƣợng nghiên cứu khoa học, nuôi làm cảnh trong các vƣờn thú. Tình trạng Trƣớc năm 1975, loài này còn gặp rất phổ biến ở các khu rừng già thuộc khu vực giữa sông Hồng và sông Đà trên diện tích ƣớc tính khoảng >2.
Từ năm 1975 trở lại đây, tình trạng của loài thay đổi rõ rệt.Số lƣợng quần thể giảm mạnh.Số lƣợng tiểu quần thể hiện nay nhỏ hơn 5. Nguyên nhân biến đổi có thể là: Nơi cƣ trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp và đây là đối tƣợng săn bắt để lấy thịt, nấu cao, buôn bán và xuất khẩu (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Phân hạng: EN A1c,d C2a (Sách đỏ Việt Nam, 2007) Biện pháp bảo vệ VĐTTB đã đƣợc đƣa vào Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và danh sách các loài cần đƣợc bảo vệ của ngành lâm nghiệp (Phụ lục IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính Phủ). Cần tiến hành tốt việc thực thi pháp luật, các quy chế, nghị định của chính phủ về công tác bảo vệ động vật hoang dã.