Tổng quan nghiên cứu

Trong hơn 50 năm qua, tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu đã làm nhiệt độ trung bình tại Việt Nam tăng từ 0,5 đến 0,7°C và mực nước biển dâng thêm khoảng 20 cm. Tại khu vực miền Trung, số liệu quan trắc giai đoạn 1974 - 2014 ghi nhận nền nhiệt tại lưu vực sông Bến Hải đã gia tăng xấp xỉ 0,9°C. Lưu vực sông Bến Hải có tổng diện tích tự nhiên 809 km² với chiều dài dòng chính 59 km, trong đó diện tích lưu vực tính đến trạm thủy văn Gia Vòng là 283,7 km². Đây là nguồn cung cấp nước huyết mạch phục vụ cho 167.722 cư dân và 21.921,05 ha đất canh tác nông nghiệp của tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi khí hậu đang làm trầm trọng hóa sự phân hóa thủy văn giữa hai mùa: lượng dòng chảy mùa lũ chiếm tới 70% đến 75% tổng lượng nước năm, trong khi 9 tháng mùa khô chỉ chiếm khoảng 25% đến 30%, cá biệt vào các tháng kiệt nhất mô đun dòng chảy hạ sâu xuống ngưỡng 10 đến 15 l/s.km².

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá định lượng mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến các đặc trưng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Bến Hải, bao gồm dòng chảy năm, dòng chảy mùa lũ và dòng chảy mùa kiệt. Nghiên cứu khảo sát sự biến động thủy văn qua ba thời kỳ chiến lược: 2016 - 2035, 2046 - 2065 và 2080 - 2099 dựa trên hai kịch bản phát thải trung bình thấp RCP4.5 và kịch bản phát thải cao RCP8.5. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống chỉ số định lượng về dòng chảy đến trạm Gia Vòng và các nhánh sông phụ lưu, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng quy hoạch phân bổ nguồn nước, điều tiết liên hồ chứa và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai lũ lụt, hạn mặn tại tỉnh Quảng Trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên hệ thống khung lý thuyết chuẩn hóa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) theo Báo cáo Đánh giá lần thứ năm (AR5). Khung đánh giá tích hợp các kịch bản nồng độ khí nhà kính đại diện gồm RCP4.5 (mức phát thải trung bình nhằm ổn định bức xạ ở mức 4,5 W/m² vào năm 2100) và RCP8.5 (mức phát thải cao không kiểm soát với bức xạ đạt 8,5 W/m² vào năm 2100).

Về mặt thủy văn, nghiên cứu vận dụng lý thuyết cân bằng nước lưu vực và mô hình toán dòng chảy mưa rào liên tục dạng bể chứa. Mô hình MIKE NAM mô phỏng chu trình tuần hoàn nước theo phương thẳng đứng thông qua 5 bể chứa chức năng: bể chứa bề mặt với dung tích trữ ẩm tối đa Umax, bể chứa tầng rễ cây với dung tích trữ ẩm Lmax, bể chứa nước ngầm tầng trên và tầng dưới cùng cơ chế phân chia dòng chảy mặt CQOF, dòng sát mặt CKIF và dòng ngầm CKBF. Các khái niệm cốt lõi được áp dụng xuyên suốt bao gồm: mô đun dòng chảy năm (đạt 54 đến 73 l/s.km² tại lưu vực Bến Hải), chuẩn dòng chảy năm, hệ số dòng chảy mặt (đạt trên 0,6 thể hiện khả năng sinh dòng chảy tốt của lớp phủ thực vật) và dòng chảy kiệt cực tiểu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn đồng bộ 38 năm liên tục từ năm 1977 đến năm 2014, bao gồm hơn 13.800 quan trắc ngày về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, bốc hơi và lưu lượng dòng chảy tại trạm thủy văn Gia Vòng cùng các trạm khí tượng Đông Hà và Khe Sanh. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu không gian - thời gian điển hình, lấy toàn bộ chuỗi số liệu thực đo đạt chuẩn của Trung tâm Dịch vụ Khí tượng Thủy văn Quốc gia để phản ánh trọn vẹn đặc trưng phân hóa địa hình từ vùng núi Trường Sơn cao trên 1.700 m đến đồng bằng hạ lưu Cửa Tùng.

Phương pháp phân tích chủ đạo là mô hình hóa thủy văn MIKE NAM kết hợp với công nghệ GIS và phân tích thống kê toán học. Mô hình NAM được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc mô phỏng các lưu vực nhiệt đới gió mùa có độ dốc lớn và phân phối mưa không đều. Chuỗi số liệu 38 năm được phân tách thành hai giai đoạn độc lập: giai đoạn 1977 - 1995 dùng để hiệu chỉnh bộ thông số bằng phương pháp thử - sai, và giai đoạn 1996 - 2014 dùng để kiểm định. Độ chính xác của mô hình được đánh giá thông qua chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe (NASH) và sai số tổng lượng nước (WBL). Kết quả hiệu chỉnh tại trạm Gia Vòng đạt NASH = 0,754 với sai số WBL = 6,8%; kết quả kiểm định đạt NASH trên 0,780. Bộ thông số tối ưu này sau đó được tích hợp với dữ liệu kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường để mô phỏng dòng chảy tương lai trong ba giai đoạn: 2016 - 2035, 2046 - 2065 và 2080 - 2099 so với thời kỳ nền 1986 - 2005.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nền nhiệt độ trung bình năm trên toàn lưu vực sông Bến Hải gia tăng mạnh mẽ qua các thời kỳ theo cả hai kịch bản. Theo kịch bản RCP4.5, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 0,7°C trong giai đoạn 2016 - 2035 lên 1,4°C ở giữa thế kỷ và đạt 1,9°C vào cuối thế kỷ (2080 - 2099). Đối với kịch bản phát thải cao RCP8.5, mức tăng nhiệt độ đạt 0,9°C ở đầu thế kỷ, 1,9°C ở giữa thế kỷ và tăng vọt lên 3,3°C vào cuối thế kỷ 21, trong đó mùa hè có mức tăng nhiệt độ cao nhất lên tới 3,8°C (biến thiên trong khoảng 3,0 đến 5,5°C).

Thứ hai, chế độ mưa diễn biến theo hướng cực đoan hóa rõ rệt. Lượng mưa năm theo kịch bản RCP4.5 tăng từ 5% đến 15%, trong khi kịch bản RCP8.5 cho thấy xu thế tăng trên 20% vào cuối thế kỷ. Tuy nhiên, lượng mưa gia tăng chủ yếu dồn vào 3 tháng mùa mưa chính (tháng 9, 10, 11), chiếm 80% đến 85% tổng lượng mưa cả năm. Ngược lại, lượng mưa các tháng mùa khô có xu hướng suy giảm cục bộ hoặc biến động không đáng kể.

Thứ ba, chế độ dòng chảy mặt tại trạm Gia Vòng biến đổi sâu sắc với sự tương phản gay gắt giữa hai mùa. Lưu lượng dòng chảy mùa lũ dự báo tăng từ 12% đến 25% vào cuối thế kỷ theo kịch bản RCP8.5, làm gia tăng biên độ đỉnh lũ và nguy cơ ngập lụt ven sông Sa Lung và sông Cánh Hòm.

Thứ tư, dòng chảy mùa kiệt có xu thế suy giảm nghiêm trọng từ 15% đến 28% trong các thời kỳ tương lai, đặc biệt vào các tháng 4 và tháng 7. Sự suy giảm nguồn nước đến kết hợp với lượng bốc hơi tiềm năng vượt 219 mm/tháng tại trạm Đông Hà đẩy lưu vực vào tình trạng khan hiếm nước ngọt nghiêm trọng trong vụ sản xuất Hè Thu.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm mạnh mẽ của dòng chảy kiệt và gia tăng dòng chảy lũ bắt nguồn trực tiếp từ hiện tượng gia tăng nhiệt độ và sự phân bố mưa bất đối xứng. Nhiệt độ tăng cao làm gia tốc quá trình thoát hơi nước từ bề mặt đất và thảm thực vật tầng rễ cây Lmax, triệt tiêu lượng bổ cập cho các bể chứa nước ngầm CKBF. Khi bước vào mùa mưa, cường độ mưa một ngày lớn nhất tăng từ 10% đến 70% trên nền địa hình đồi núi dốc 15 đến 18 độ, dẫn đến hiện tượng dòng chảy tràn CQOF tập trung nước nhanh ra lòng sông, tạo nên các đợt lũ dâng cao đột ngột.

Khi so sánh với các nghiên cứu thủy văn tại lưu vực lân cận như sông Hương (Thừa Thiên Huế) hay sông Vu Gia - Thu Bồn, xu thế dòng chảy mùa lũ tăng và dòng chảy mùa cạn giảm tại sông Bến Hải phản ánh tính quy luật chung của khu vực Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, lưu vực sông Bến Hải chịu tác động tiêu cực nặng nề hơn do hiệu ứng gió Tây Nam khô nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, khiến chuẩn sai dòng chảy mùa kiệt suy giảm sâu hơn các lưu vực phía nam.

Trong thực tế phân tích, toàn bộ các diễn biến này được trực quan hóa chuẩn xác thông qua các biểu đồ đường quá trình dòng chảy mô phỏng nhiều năm, biểu đồ cột so sánh tỷ lệ biến đổi lưu lượng tháng (%) giữa các kịch bản so với thời kỳ nền, và bản đồ GIS phân vùng suy giảm mô đun dòng chảy trên toàn lưu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Quy hoạch và vận hành tối ưu hệ thống hồ chứa thủy lợi: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị cùng Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Quản lý Khai thác Công trình Thủy lợi cần chủ trì rà soát, nâng cấp dung tích phòng lũ của các hồ chứa đầu nguồn thêm 15% đến 20%, đồng thời ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực trước năm 2026 nhằm tích trữ tối thiểu 85% dung tích thiết kế trước khi bước vào mùa khô kiệt.
  2. Chuyển dịch cơ cấu mùa vụ và cây trồng thích ứng hạn mặn: Ủy ban Nhân dân các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ cần chỉ đạo chuyển đổi linh hoạt từ 2.500 đến 3.000 ha đất trồng lúa vụ Hè Thu kém hiệu quả sang canh tác cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả chịu hạn (như ngô, đậu, hồ tiêu) trong giai đoạn 2026 - 2030, giúp giảm 25% nhu cầu nước tưới nông nghiệp trong các tháng kiệt đỉnh điểm.
  3. Xây dựng và kiên cố hóa công trình ngăn mặn giữ ngọt hạ du: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị cần ưu tiên triển khai nâng cấp hệ thống cống đập ngăn mặn tại khu vực Cửa Tùng và dọc sông Cánh Hòm trong giai đoạn 2027 - 2032, đảm bảo duy trì độ mặn dưới ngưỡng 1‰ tại các trạm bơm phục vụ nước sinh hoạt và tưới tiêu.
  4. Tăng cường bảo vệ và phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị phối hợp với các ban quản lý rừng phòng hộ nâng độ che phủ rừng tại vùng núi cao dãy Trường Sơn từ mức 50% hiện tại lên trên 60% vào năm 2030, nhằm tăng cường khả năng giữ ẩm của tầng đất rễ cây Lmax, cắt giảm 10% đến 15% lưu lượng đỉnh lũ và bổ sung 12% đến 18% dòng chảy ngầm cho mùa kiệt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và biến đổi khí hậu: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị có thể khai thác trực tiếp cơ sở dữ liệu định lượng về lưu lượng dòng chảy đến năm 2099 để tích hợp vào Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu và Quy hoạch tài nguyên nước cấp tỉnh giai đoạn 2025 - 2035.
  2. Đơn vị tư vấn, thiết kế công trình thủy lợi và giao thông thủy: Các kỹ sư công trình thủy văn có thể ứng dụng bộ thông số mô hình MIKE NAM tối ưu (NASH = 0,754) và các chỉ số thủy văn thiết kế đỉnh lũ để tính toán khẩu độ thoát nước cho cầu, cống, đê bao và đập tràn trên lưu vực sông Bến Hải.
  3. Các viện nghiên cứu, trường đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành: Giảng viên và học viên cao học thuộc các ngành Khí tượng Thủy văn, Biến đổi Khí hậu, Quản lý Tài nguyên Nước có thể sử dụng công trình này như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình liên kết chuỗi dữ liệu kịch bản biến đổi khí hậu với mô hình mưa - dòng chảy lumped-parameter.
  4. Các doanh nghiệp sản xuất nông - lâm nghiệp và cấp nước sinh hoạt: Các hợp tác xã và doanh nghiệp khai thác nước thô tại lưu vực sông Bến Hải có thể dựa vào biểu đồ phân phối dòng chảy tháng để xây dựng kế hoạch khai thác nước hợp lý, bố trí công suất trạm bơm và chủ động đầu tư hệ thống tích trữ nước nội đồng phục vụ 21.921,05 ha canh tác.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao mô hình MIKE NAM lại phù hợp để mô phỏng dòng chảy sông Bến Hải?
Mô hình MIKE NAM có cấu trúc dạng bể chứa liên tục, phản ánh chân thực các quá trình thấm, bốc thoát hơi và tích trữ ẩm trong lưu vực nhiệt đới. Với chuỗi số liệu thực nghiệm 38 năm, mô hình đạt hệ số hiệu quả NASH 0,754 trong giai đoạn hiệu chỉnh và trên 0,780 trong giai đoạn kiểm định, khẳng định độ tin cậy vượt trội trong việc mô phỏng dòng chảy sông Bến Hải.

Lưu lượng dòng chảy mùa kiệt sông Bến Hải biến động ra sao dưới tác động của biến đổi khí hậu?
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, lưu lượng dòng chảy mùa kiệt tại trạm Gia Vòng dự báo suy giảm từ 15% đến 28%, đặc biệt gay gắt trong tháng 4 và tháng 7. Nguyên nhân chính là do nhiệt độ tăng từ 0,9 đến 3,3°C làm lượng bốc hơi tiềm năng vượt 219 mm/tháng tại Đông Hà, làm cạn kiệt lượng ẩm bổ cấp từ tầng nước ngầm.

Nguy cơ lũ lụt tại hạ lưu sông Bến Hải thay đổi như thế nào trong tương lai?
Theo kịch bản RCP8.5 giai đoạn 2080 - 2099, dòng chảy mùa lũ tăng từ 12% đến 25% do lượng mưa mùa mưa tăng trên 20% và tập trung dồn dập vào các tháng 9, 10, 11. Cường độ dòng chảy mặt gia tăng trên sườn dốc 15 đến 18 độ làm tăng tần suất xuất hiện lũ quét và gia tăng diện tích ngập lụt tại các vùng đồng bằng trũng thấp.

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu quan trắc nào để đảm bảo tính chuẩn xác?
Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo liên tục trong 38 năm (1977 - 2014) tại các trạm đại biểu Gia Vòng, Đông Hà và Khe Sanh. Chuỗi số liệu được phân chia thành hai giai đoạn độc lập: 1977 - 1995 dùng để hiệu chỉnh và 1996 - 2014 dùng để kiểm định, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn thống kê khắt khe của ngành khí tượng thủy văn.

Ngành nông nghiệp địa phương cần thực hiện giải pháp ưu tiên nào để ứng phó?
Giải pháp ưu tiên hàng đầu là chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho 2.500 đến 3.000 ha đất lúa Hè Thu sang cây trồng cạn chịu hạn, kết hợp vận hành điều tiết tích nước sớm tại các hồ chứa nhằm đảm bảo tối thiểu 85% dung tích hữu ích. Biện pháp này giúp bù đắp sự thiếu hụt 25% nguồn nước tưới trong mùa khô và bảo vệ sinh kế cho 167.722 người dân.

Kết luận

  • Nền nhiệt độ trung bình trên lưu vực sông Bến Hải gia tăng từ 0,7°C đến 3,3°C theo các kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 qua các thời kỳ 2016 - 2035, 2046 - 2065 và 2080 - 2099.
  • Chế độ mưa phân hóa cực đoan với lượng mưa năm tăng từ 5% đến trên 20%, trong đó 80% đến 85% lượng mưa tập trung dồn dập vào mùa mưa chính, làm tăng nguy cơ ngập lụt và lũ quét.
  • Dòng chảy mùa kiệt suy giảm sâu từ 15% đến 28%, kết hợp với lượng bốc hơi vượt 219 mm/tháng gây áp lực căng thẳng lên nguồn nước cấp cho 167.722 cư dân và 21.921,05 ha đất canh tác.
  • Mô hình MIKE NAM được thiết lập và kiểm định đạt độ chính xác cao với hệ số NASH trên 0,780, cung cấp bộ công cụ mô phỏng thủy văn đáng tin cậy cho công tác quản lý tài nguyên nước mặt.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ gồm điều tiết hồ chứa, chuyển đổi 2.500 ha cây trồng cạn, ngăn mặn tại Cửa Tùng và nâng tỷ lệ che phủ rừng lên trên 60% là định hướng hành động then chốt cho giai đoạn 2026 - 2030.

Luận văn đã đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học định lượng có giá trị cao, phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển bền vững tài nguyên nước tỉnh Quảng Trị. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học cần tiếp tục khai thác kết quả này để triển khai các mô hình thủy lực 2 chiều và quy hoạch lưu vực chi tiết trước năm 2030. Hãy tham khảo và ứng dụng ngay công trình nghiên cứu để chủ động xây dựng các giải pháp thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu!