Chương 1: Tổng quan, trong chương này trình bày về tổng quan tia X, máy phát tia X và tổng quan về chương trình MCNP. Chương 2: An toàn che chắn trong phòng X quang chẩn đoán y tế. Trình bày về các hiệu ứng sinh học, các tổn thương do bức xạ ion hóa, các giới hạn liều chiếu xạ, các tiêu chuẩn an toàn bức xạ của thế giới, tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6561:1999 “An toàn bức xạ ion hóa tại các cơ sở X quang y tế”, tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6866:2001 “An toàn bức xạ - Giới hạn liều chiếu đối với nhân viên bức xạ và dân chúng”. Đồng thời cũng trình bày về mục đích và ý nghĩa của việc che chắn.
Chương 3: Kết quả và thảo luận. Trình bày việc xây dựng mô hình phòng máy X quang bằng chương trình MCNP5, chuẩn hóa chương trình bằng kết quả đo đạc thực nghiệm. Ứng dụng chương trình MCNP5 để tính toán suất liều tại các vị trí xung quanh ống phát tia X trong và ngoài phòng, từ đó đánh giá an toàn bức xạ xung quanh khu vực khảo sát. Đồng thời tính toán suất liều khi giảm kích thước phòng, xem xét ảnh hưởng của tán xạ đến kết quả và thay thế vật liệu để tiết kiệm chi phí xây dựng.
Tổng quan về tia X và máy phát tia X. Tính chất của tia X Tối ngày 8 tháng 11 năm 1895, sau khi rời phòng thí nghiệm một quãng, sực nhớ quên chưa ngắt cầu dao điện cao thế dẫn vào ống tia catod, Wilhelm Conrad Roentgen quay lại phòng và nhận thấy một vệt sáng màu xanh lục trên bàn tuy phòng tối om. Với đầu óc nhạy bén, đầy kinh nghiệm của một nhà vật lí học, việc này đã lôi cuốn ông và sau 49 ngày liên tục miệt mài nghiên cứu, ông đã tìm ra tính chất của thứ tia bí mật mà ông tạm đặt tên là tia X và mang lại cho ông giải Nobel về vật lý đầu tiên vào năm 1901 [14]. Một số đặc tính của tia X: Tia X hay tia Roentgen, là bức xạ điện từ có bước sóng trong khoảng từ 0,01 nm đến 10 nm, tương ứng với dãy tần số khoảng từ 30 PHz đến 30 EHz (1PHz = 1015Hz, 1EHz=1018Hz) và năng lượng từ 120 eV đến 120 keV.
Ta có thể so sánh P P P P bước sóng tia X trong dãy sóng điện từ sau đây: Hình 1. Phổ sóng điện từ. Tính truyền thẳng và đâm xuyên: là tính chất nổi bật của tia X, tia X truyền thẳng theo mọi hướng và có khả năng xuyên qua vật chất, qua cơ thể người, nó dễ dàng đi qua các vật không trong suốt như gỗ, giấy, vải, các mô mềm như thịt, da. 11 Đối với các mô cứng và kim loại thì nó đi qua khó hơn, kim loại có nguyên tử lượng càng lớn thì tia X càng khó xuyên qua.
Tia X có bước sóng càng ngắn thì khả năng đâm xuyên càng mạnh, khi đó ta nói tia X càng cứng. Sự đâm xuyên này càng dễ dàng khi năng lượng tia càng tăng. Đây là đặc trưng quan trọng trong tạo hình X quang. Tính bị hấp thụ: sau khi xuyên qua vật chất thì cường độ chùm tia X bị suy giảm do một phần năng lượng bị hấp thụ.
Đây là cơ sở của các phương pháp chẩn đoán X quang và liệu pháp X quang. Sự hấp thu này tỉ lệ thuận với: Thể tích của vật chất bị chiếu xạ: vật càng lớn thì tia X bị hấp thụ càng nhiều. Bước sóng của chùm tia X: bước sóng càng dài tức là tia X càng mềm thì sẽ bị hấp thụ càng nhiều. Trọng lượng nguyên tử của vật chất: sự hấp thụ tăng theo trọng lượng nguyên tử của chất bị chiếu xạ.
Mật độ của vật chất: số nguyên tử trong một thể tích nhất định của vật càng nhiều thì sự hấp thụ tia X càng tăng. Tính chất quang học: tia X có những hiện tượng quang học như khúc xạ, phản xạ, nhiễu xạ và tán xạ. Tính chất gây phát quang: dưới tác dụng của tia X một số muối trở nên phát quang như các muối clorua, Na, Ba, Mg, Li,. và có chất trở nên sáng như Tungstat cadmi, platino-cyanua Bari các chất này được dùng để chế tạo màn huỳnh quang dùng khi chiếu X quang, tấm tăng quang.
Tính chất hóa học: tính chất hóa học quan trọng nhất của tia X là tác dụng lên muối Bromua bạc trên phim và giấy ảnh làm cho nó biến thành bạc khi chịu tác dụng của các chất khử trong thuốc hiện hình. Nhờ tính chất này mà nó cho phép ghi hình X quang của các bộ phận trong cơ thể lên phim và giấy ảnh. 12 Tác dụng sinh học: khi truyền qua cơ thể, tia X có những tác dụng sinh học. Tác dụng này được sử dụng trong điều trị đồng thời nó cũng gây nên những biến đổi có hại cho cơ thể.
Tương tác của tia X với vật chất Khi đi qua vật chất, các photon sẽ xuyên qua, tán xạ hoặc bị hấp thụ. Có ba loại tương tác chính của tia X với vật chất là tán xạ (gồm có tán xạ Rayleigh và tán xạ Compton), hấp thụ quang điện và tạo cặp. Trong đó tán xạ Rayleigh, tán xạ Compton và hấp thụ quang điện đóng vai trò quan trọng trong X quang chẩn đoán và y học hạt nhân [3]. Tán xạ Rayleigh Trong tán xạ Rayleigh (hay tán xạ đàn hồi), các photon tới tương tác và kích thích nguyên tử.
Trong tương tác này, photon tán xạ có cùng năng lượng với photon tới, electron không được phát ra do đó không xảy ra quá trình ion hóa và góc tán xạ tăng khi năng lượng tia X giảm. Tán xạ Rayleigh xảy ra chủ yếu với tia X chẩn đoán năng lượng thấp như trong chụp nhũ ảnh (15keV đến 30keV). Trong chẩn đoán hình ảnh, tia X tán xạ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng hình ảnh. Tuy nhiên, tương tác này xảy ra với xác suất thấp trong vùng năng lượng chẩn đoán.
Trong mô mềm, tán xạ Rayleigh chiếm ít hơn 5% tương tác tia X trên 70keV và hầu hết chỉ chiếm 12% tương tác tia X ở khoảng 30keV. Tán xạ Compton Tán xạ Compton còn gọi là tán xạ không đàn hồi là hiện tượng photon tán xạ trên electron của nguyên tử và lệch khỏi hướng đi ban đầu. Tán xạ Compton là tương tác chủ yếu của tia X trong vùng năng lượng chẩn đoán với mô mềm. Trong thực tế, tán xạ Compton chiếm ưu thế trong vùng năng lượng chẩn đoán trên 26 keV.
Tương tác này có khả năng xảy ra nhất giữa các photon và các electron lớp vỏ ngoài. Electron bị đẩy ra từ nguyên tử, photon bị tán xạ với năng lượng suy giảm. Như tất cả các tương tác khác, năng lượng và động lượng phải được bảo toàn. Vì năng lượng liên kết của các electron rất nhỏ nên có thể bỏ qua, do đó năng lượng của photon tới E 0 bằng tổng năng lượng của photon tán xạ E sc và năng lượng R R R R electron phát ra E e-.
Tán xạ Compton Tán xạ Compton dẫn đến sự ion hóa của nguyên tử và sự phân chia năng lượng photon tới giữa photon tán xạ và electron phát ra. Electron phát ra sẽ mất động năng của nó qua việc kích thích và ion hóa các nguyên tử trong môi trường vật chất xung quanh. Photon tán xạ có thể đi trong môi trường mà không xảy ra tương 14 tác hoặc có thể tiếp tục trải qua các tương tác như tán xạ Compton, tán xạ Rayleigh và hiệu ứng quang điện. Năng lượng của photon tán xạ E sc có thể được tính từ năng lượng photon tới R R E 0 và góc của photon tán xạ θ: R R E0 E sc = (1.
Hấp thụ quang điện Trong hiệu ứng quang điện, các photon va chạm không đàn hồi với các nguyên tử và trao toàn bộ năng lượng của mình cho electron liên kết của nguyên tử. Hấp thụ quang điện Động năng của quang electron bị đẩy ra E e bằng năng lượng photon tới E 0 trừ R R R R năng lượng liên kết của electron quỹ đạo E b .3) Để hấp thụ quang điện xảy ra, năng lượng photon tới phải lớn hơn năng lượng liên kết của electron bị đẩy ra. Sau tương tác quang điện, nguyên tử bị ion hóa, xuất hiện một lỗ trống bên trong lớp vỏ electron. Lỗ trống này sẽ được lấp đầy bởi một electron từ lớp vỏ có năng lượng liên kết thấp hơn.
Một lỗ trống khác được tạo ra và sau đó được lấp đầy bởi một electron từ lớp vỏ có năng lượng liên kết thấp hơn. Do đó, một thác electron từ lớp vỏ ngoài đến lớp vỏ trong xuất hiện. Sự khác biệt trong năng lượng liên kết là giải phóng cả bức xạ tia X đặc trưng và electron Auger. 15 Xác suất phát xạ tia X giảm khi số khối của chất hấp thụ giảm và do đó không thường xuyên xảy ra đối với tương tác photon năng lượng chẩn đoán trong các mô mềm.
Xác suất hấp thụ quang điện trên một đơn vị khối lượng xấp xỉ bằng Z3/E3 với P P P P Z là số nguyên tử và E là năng lượng của photon tới. Quá trình quang điện chiếm ưu thế khi photon năng lượng thấp tương tác với vật liệu có Z lớn. Lợi ích của sự hấp thụ quang điện trong hình ảnh X quang là không có photon thứ cấp bổ sung làm giảm chất lượng hình ảnh. Thực tế, xác suất của sự hấp thụ quang điện tỉ lệ thuận với 1/E3, một phần do độ tương phản hình ảnh giảm khi năng P P lượng tia X cao được sử dụng trong quá trình chụp ảnh.
Quá trình tạo cặp Quá trình tạo cặp chỉ xảy ra khi năng lượng tia X vượt quá 1,022 MeV. Trong quá trình tạo cặp, một tia X tương tác với điện trường của hạt nhân của nguyên tử. Năng lượng của photon được truyền sang cặp elelctron và positron. Electron và positron di chuyển và mất động năng thông qua quá trình kích thích và ion hóa.
Quá trình tạo cặp ít xuất hiện trong chẩn đoán hình ảnh vì nó cần năng lượng cực lớn để xảy ra. Trong thực tế, quá trình tạo cặp không đáng kể nếu năng lượng photon tới không vượt quá 1,022 MeV. Quá trình tạo cặp 16 1. Hệ số hấp thụ tuyến tính Xét một chùm tia X đơn sắc, chuẩn trực có cường độ I 0 , khi đi qua một lớp vật R R chất có bề dày x(cm), sự suy giảm cường độ của chùm tia sau khi đi qua vật chất I tuân theo định luật suy giảm: I = I 0 e − µx (1.4) Với µ (cm-1) là hệ số hấp thụ tuyến tính.