Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang làm gia tăng tần suất và mức độ tàn phá của các thảm họa thiên tai, đặt áp lực nặng nề lên hệ thống y tế công cộng. Thống kê quốc tế cho thấy trung bình mỗi tuần xảy ra một thảm họa quy mô lớn trên thế giới, khiến hàng nghìn người thương vong và phá hủy hàng loạt cơ sở hạ tầng trọng yếu. Tại Việt Nam, giai đoạn 1980–2010 đã ghi nhận 159 đợt thiên tai, làm 16.000 người thiệt mạng và hơn 73.754 người bị thương. Khi thảm họa xảy ra, nhu cầu cấp cứu của người dân tăng đột biến trong khi chính các cơ sở y tế lại đối mặt với nguy cơ đổ sụp, ngập lụt hoặc tê liệt hoàn toàn chức năng hoạt động.

Tỉnh Bến Tre là địa bàn ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên 236.020 ha và quy mô dân số hơn 1,2 triệu người. Mạng lưới y tế tỉnh gồm 186 cơ sở khám chữa bệnh với 4.480 giường bệnh và 3.400 cán bộ y tế, thực hiện khoảng 2,5 triệu lượt khám chữa bệnh mỗi năm. Do đặc điểm địa hình chia cắt bởi ba dải cù lao và chịu tác động trực tiếp từ biển Đông, Bến Tre thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão lũ, triều cường làm ngập hàng nghìn ngôi nhà, lốc xoáy và sạt lở bờ sông. Bên cạnh đó, các sự cố kỹ thuật nội bộ như vụ hỏa hoạn chập điện thiêu rụi hệ thống máy chủ công nghệ thông tin tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu ngày 19 tháng 2 năm 2019 đã chứng minh tính cấp thiết của công tác quản trị rủi ro tại các cơ sở y tế.

Đề tài "Đánh giá khả năng đáp ứng an toàn trong tình huống khẩn cấp và thảm họa của các bệnh viện tỉnh Bến Tre năm 2020 – 2021" do học viên Lại Nguyễn Lê Dương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Văn Chính tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ đạt chuẩn Bệnh viện An Toàn (BVAT) trên toàn bộ 13 bệnh viện trực thuộc tỉnh Bến Tre theo 307 tiêu chí của Bộ Y tế, đồng thời phân tích mối liên quan giữa khả năng đáp ứng an toàn với quy mô, tuyến, vị trí địa lý và phân hạng bệnh viện trong giai đoạn khảo sát từ tháng 2/2021 đến tháng 6/2021. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng giúp các nhà quản lý y tế xây dựng chiến lược củng cố hạ tầng và nâng cao năng lực ứng phó thảm họa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết Bệnh viện An Toàn do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khởi xướng thông qua Chỉ số An toàn Bệnh viện (Hospital Safety Index - HSI). Khái niệm BVAT được định nghĩa là cơ sở y tế có khả năng duy trì liên tục khả năng tiếp cận và vận hành tối đa công suất với nguyên vẹn cơ sở hạ tầng trước, trong và ngay sau khi thảm họa xảy ra. Khung lý thuyết này khẳng định một cơ sở y tế an toàn không chỉ dừng lại ở tính bền vững của kết cấu xây dựng mà còn phải bảo vệ an toàn tính mạng cho nhân viên y tế, người bệnh và duy trì thông suốt các dịch vụ lâm sàng thiết yếu.

Tại Việt Nam, khung đánh giá được cụ thể hóa thông qua Bộ công cụ đánh giá BVAT ban hành kèm theo Quyết định số 4695/QĐ-BYT ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Bộ Y tế. Hệ thống gồm 307 tiêu chí được chuẩn hóa thành 4 nhóm trụ cột chính:

  • Nhóm A: Kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc (59 tiêu chí), bao gồm an toàn vị trí xây dựng, kết cấu chịu lực, an toàn mái, trần, tường, cửa và lối thoát hiểm.
  • Nhóm B: Phi kết cấu liên quan đến hệ thống trang thiết bị công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng (130 tiêu chí), bao gồm nguồn điện dự phòng, cấp thoát nước, thông khí y tế, phòng cháy chữa cháy và an toàn máy móc thiết bị y tế.
  • Nhóm C: Chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực (64 tiêu chí), bao gồm hệ thống chỉ huy ứng phó sự cố, quy trình vận hành chuẩn (SOP), kế hoạch khẩn cấp và năng lực đào tạo diễn tập định kỳ.
  • Nhóm D: Chức năng liên quan đến trang thiết bị (54 tiêu chí), bao gồm cơ số vật tư y tế khẩn cấp, chuỗi cung ứng hậu cần, hệ thống bảo đảm an ninh và mạng lưới thông tin liên lạc dự phòng.

Bệnh viện chỉ được công nhận đạt chuẩn BVAT khi đáp ứng đầy đủ và đồng thời cả 4 nhóm tiêu chí nêu trên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả (cross-sectional descriptive study). Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 2/2021 đến tháng 6/2021 trên địa bàn toàn tỉnh Bến Tre.

Dân số nghiên cứu và cỡ mẫu bao gồm toàn bộ 13 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bến Tre do Sở Y tế quản lý (gồm 12 bệnh viện công lập và 1 bệnh viện tư nhân). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census) được áp dụng nhằm loại bỏ sai lệch chọn lựa, phản ánh bức tranh toàn diện về năng lực ứng phó của hệ thống bệnh viện địa phương. Mẫu nghiên cứu bao gồm 6 bệnh viện tuyến tỉnh (chiếm 46,15%) và 7 bệnh viện tuyến huyện (chiếm 53,85%). Về vị trí địa lý, có 10 bệnh viện nằm ở khu vực ven biển (chiếm 76,92%) và 3 bệnh viện nằm ở khu vực không ven biển (chiếm 23,08%). Về phân hạng, mẫu gồm 1 bệnh viện hạng I (chiếm 7,69%), 3 bệnh viện hạng II (chiếm 23,08%) và 9 bệnh viện hạng III (chiếm 69,23%). Về quy mô giường bệnh, có 5 bệnh viện quy mô 100–299 giường (chiếm 38,46%), 6 bệnh viện quy mô 300–499 giường (chiếm 46,15%) và 2 bệnh viện quy mô từ 500 giường trở lên (chiếm 15,39%).

Kỹ thuật thu thập số liệu được thực hiện thông qua đoàn khảo sát liên ngành độc lập gồm nghiên cứu viên chính, chuyên gia xây dựng – phòng cháy chữa cháy và đại diện phòng Kế hoạch tổng hợp của từng đơn vị. Đoàn tiến hành kiểm tra thực địa, rà soát hồ sơ hành chính và chấm điểm theo bảng kiểm 307 tiêu chí của Bộ Y tế. Dữ liệu sau khi làm sạch được nhập bằng phần mềm Microsoft Excel và xử lý trên phần mềm thống kê Stata 14.0. Thống kê mô tả được dùng để trình bày tần số và tỷ lệ phần trăm. Do cỡ mẫu nhỏ và có trên 20% số ô có tần số kỳ vọng nhỏ hơn 5, nghiên cứu sử dụng phép kiểm chính xác Fisher (Fisher's Exact Test) để kiểm định mối liên quan giữa tỷ lệ đạt các nhóm tiêu chí BVAT với các biến số nền (quy mô, tuyến, vị trí và hạng bệnh viện) với mức ý nghĩa thống kê alpha dưới 0,05 và khoảng tin cậy 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên toàn bộ 13 bệnh viện tại tỉnh Bến Tre đã ghi nhận các kết quả định lượng cụ thể:

Thứ nhất, tỷ lệ đáp ứng chuẩn Bệnh viện An Toàn tổng thể trong tình huống khẩn cấp và thảm họa đạt 0% (0/13 bệnh viện). Không có bất kỳ bệnh viện công lập hay tư nhân nào trên địa bàn tỉnh đáp ứng đồng thời cả 4 nhóm tiêu chí A, B, C và D theo quy định của Bộ Y tế.

Thứ hai, đối với nhóm A (Kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc), chỉ có 1 trên 13 bệnh viện đạt chuẩn, tương ứng tỷ lệ 7,69%. Đi sâu vào từng phần thành phần:

  • Tiêu chí kết cấu công trình (A1) đạt tỷ lệ khả quan với 61,54% (8/13 bệnh viện). Trong đó, 100% bệnh viện (13/13) có đầy đủ giấy phép xây dựng; 84,62% (11/13) đạt an toàn kết cấu chịu lực; 76,92% (10/13) đạt yêu cầu về vị trí xây dựng và khả năng tiếp cận; 69,23% (9/13) đạt yêu cầu thiết kế kỹ thuật.
  • Tiêu chí phi kết cấu về kiến trúc (A2) ghi nhận tỷ lệ đạt rất thấp, chỉ 7,69% (1/13 bệnh viện). Mặc dù an toàn các yếu tố bên ngoài đạt 100% (13/13) và an toàn mái đạt 92,31% (12/13), các tiêu chí then chốt khác lại suy giảm nghiêm trọng: an toàn vật liệu lát sàn chỉ đạt 53,85% (7/13), an toàn trần chỉ đạt 38,46% (5/13) và an toàn cửa cùng lối vào chỉ đạt mức 15,38% (2/13 bệnh viện).

Thứ ba, đối với nhóm B (Phi kết cấu liên quan đến hệ thống trang thiết bị công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng), tỷ lệ đạt chuẩn là 0% (0/13 bệnh viện). 100% các đơn vị đều gặp sự cố thiếu đồng bộ tại hệ thống hạ tầng kỹ thuật phụ trợ như máy phát điện dự phòng tự động chuyển mạch, nguồn cấp nước chữa cháy liên tục và hệ thống cảnh báo sớm.

Thứ tư, đối với nhóm C (Chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực) và nhóm D (Chức năng liên quan đến trang thiết bị), tỷ lệ đạt chuẩn của cả hai nhóm đều ghi nhận ở mức 0% (0/13 bệnh viện). Các bệnh viện thiếu hụt nghiêm trọng các quy trình vận hành chuẩn xử lý thảm họa, chưa thành lập trung tâm điều hành khẩn cấp chuyên trách và thiếu cơ chế dự trữ thuốc men, oxy y tế dự phòng độc lập khi xảy ra sự cố kéo dài.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng các bệnh viện tại Bến Tre mới chỉ chú trọng đến tính pháp lý và độ kiên cố của khung nhà bê tông cốt thép, nhưng lại bỏ quên các yếu tố phi kết cấu và năng lực vận hành chức năng khi thảm họa ập đến. Điểm nghẽn lớn nhất trong nhóm kiến trúc là hệ thống cửa và lối thoát hiểm (chỉ đạt 15,38%) cùng trần nhà (38,46%). Trong thực tế, trần thạch cao hoặc nhôm mỏng dễ sập khi có rung lắc mạnh hoặc gió bão, làm chặn lối thoát hiểm và gây chấn thương cho bệnh nhân. Cửa kính không cường lực và lối đi hẹp sẽ biến thành chướng ngại vật nguy hiểm khi cần sơ tán hàng trăm bệnh nhân nội trú.

Khi biểu diễn các dữ liệu này trên biểu đồ cột hoặc bảng ma trận đối chiếu, sự đứt gãy giữa tính kiên cố kết cấu (61,54%) và năng lực an toàn phi kết cấu (7,69%) thể hiện rất trực quan. Sự chênh lệch này cho thấy rủi ro tiềm ẩn: tòa nhà có thể không sập, nhưng bệnh viện hoàn toàn có thể bị vô hiệu hóa chức năng điều trị nếu hệ thống điện nước, oxy và đường thoát hiểm bị hư hại.

So sánh với các nghiên cứu trong nước và quốc tế, phát hiện tại Bến Tre có sự tương đồng sâu sắc. Nghiên cứu năm 2019 trên 36 bệnh viện công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ đạt nhóm A là 2,8%, nhóm B là 0%, nhóm C là 5,6% và nhóm D là 13,9%. Khảo sát tại 7 bệnh viện tỉnh Quảng Bình năm 2015 cũng ghi nhận 100% cơ sở y tế không đạt mức an toàn khi xảy ra thiên tai. Trên bình diện quốc tế, khảo sát HSI trên 224 bệnh viện tại Iran năm 2014 và 70 bệnh viện tại Slovakia năm 2017 đều ghi nhận 0% cơ sở y tế đạt mức an toàn cao. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc nguồn lực tài chính y tế công lập thường ưu tiên mua sắm máy móc điều trị hàng ngày, trong khi các hạng mục bảo trì hạ tầng dự phòng, huấn luyện nhân sự và diễn tập ứng phó thảm họa chưa được phân bổ ngân sách định kỳ thỏa đáng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thu thập được, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chỉ số an toàn cho hệ thống bệnh viện:

  1. Nâng cấp hạ tầng phi kết cấu và hệ thống kỹ thuật công trình Sở Y tế tỉnh Bến Tre cần phối hợp cùng Sở Xây dựng thẩm định và lập kế hoạch cải tạo khẩn cấp hệ thống cửa sổ cường lực, cửa thoát hiểm chống cháy và trần treo kiên cố cho 100% bệnh viện. Đơn vị cần trang bị máy phát điện dự phòng có công suất tải tối thiểu 80% nhu cầu toàn viện cùng bồn dự trữ nước sạch ngầm đảm bảo vận hành liên tục 72 giờ, phấn đấu nâng tỷ lệ đạt chuẩn nhóm A lên trên 50% và nhóm B lên trên 30% trong giai đoạn 2021–2023.

  2. Chuẩn hóa quy trình vận hành chuẩn và thiết lập hệ thống chỉ huy sự cố Ban Giám đốc các bệnh viện cần ban hành bộ quy trình vận hành chuẩn (SOP) về ứng phó tình huống khẩn cấp cho từng khoa phòng, thành lập Ban chỉ đạo phòng chống thảm họa do Giám đốc trực tiếp điều hành. Mỗi cơ sở y tế cam kết tổ chức tối thiểu 2 đợt diễn tập phòng cháy chữa cháy và 1 đợt diễn tập thực chiến mô phỏng tiếp nhận thương vong hàng loạt mỗi năm, hoàn thành mục tiêu 100% nhân viên y tế nắm vững kỹ năng sơ tán trong giai đoạn 2022–2024.

  3. Xây dựng chuỗi cung ứng dự phòng và hậu cần khẩn cấp độc lập Các bệnh viện nằm tại khu vực ven biển (chiếm 76,92% tổng số bệnh viện toàn tỉnh) phải thiết lập kho lưu trữ thuốc cấp cứu, dịch truyền, hóa chất khử khuẩn và hệ thống oxy hóa lỏng dự phòng đặt tại vị trí cao ráo, miễn nhiễm với triều cường và ngập lụt, đảm bảo khả năng tự cung tự cấp dịch vụ y tế khi bị cô lập về giao thông.

  4. Số hóa hệ thống thông tin liên lạc và an toàn dữ liệu y tế Khắc phục triệt để bài học từ sự cố cháy trung tâm dữ liệu năm 2019, các bệnh viện cần triển khai hệ thống sao lưu dữ liệu bệnh án điện tử đa vùng trên nền tảng điện toán đám mây. Đồng thời, trang bị hệ thống bộ đàm sóng ngắn và điện thoại vệ tinh cho 13 bệnh viện nhằm bảo đảm kênh liên lạc thông suốt với cơ quan quản lý cấp trên trong mọi tình huống cắt điện diện rộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo Sở Y tế: Sử dụng số liệu thực chứng của luận văn làm căn cứ xây dựng Đề án nâng cao năng lực phòng chống thiên tai ngành y tế tỉnh Bến Tre giai đoạn 2021–2025, định hướng phân bổ ngân sách đầu tư công vào các hạng mục hạ tầng kỹ thuật an toàn còn yếu kém.

  2. Ban Giám đốc và cán bộ quản lý chất lượng tại các bệnh viện: Sử dụng trực tiếp bộ 307 tiêu chí của Bộ Y tế kèm theo kết quả rà soát để tự đánh giá mức độ an toàn của đơn vị mình, từ đó xây dựng kế hoạch hành động khắc phục điểm nghẽn về cửa thoát hiểm, trần nhà và quy trình ứng phó thảm họa.

  3. Kỹ sư xây dựng và kiến trúc sư công trình y tế: Tham khảo các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn phi kết cấu, vật liệu hoàn thiện chống cháy và nguyên tắc bố trí hệ thống hạ tầng phụ trợ (máy phát điện, oxy, cấp thoát nước) chịu tải thảm họa khi thiết kế các bệnh viện mới tại khu vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long.

  4. Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu viên chuyên ngành Quản lý Y tế: Sử dụng tài liệu làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả, kỹ thuật thu thập số liệu thực địa liên ngành và phương pháp kiểm định Fisher exact trong đánh giá rủi ro y tế công cộng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khái niệm Bệnh viện An Toàn theo tiêu chuẩn của WHO và Bộ Y tế là gì? Bệnh viện An Toàn là cơ sở y tế có kết cấu kiên cố, hệ thống trang thiết bị công trình đồng bộ và đội ngũ nhân sự được đào tạo bài bản, có khả năng duy trì hoạt động khám chữa bệnh liên tục ở công suất tối đa trước, trong và ngay sau khi thảm họa thiên tai xảy ra mà không bị gián đoạn hay đổ sụp.

  2. Tại sao toàn bộ 13 bệnh viện tại Bến Tre đều có tỷ lệ BVAT tổng thể đạt 0%? Để đạt chuẩn BVAT, cơ sở y tế phải đáp ứng đầy đủ cả 4 nhóm tiêu chí gồm kết cấu - phi kết cấu kiến trúc (nhóm A), hệ thống trang thiết bị công trình (nhóm B), chính sách - nhân lực (nhóm C) và trang thiết bị y tế (nhóm D). Do 100% bệnh viện đều chưa đạt ở các nhóm B, C và D nên tỷ lệ an toàn chung toàn tỉnh là 0%.

  3. Yếu tố phi kết cấu kiến trúc nào tại các bệnh viện Bến Tre có tỷ lệ đạt thấp nhất? Tiêu chí an toàn cửa và lối vào ghi nhận tỷ lệ đạt thấp nhất với chỉ 15,38% (2/13 bệnh viện), tiếp theo là an toàn trần nhà chỉ đạt 38,46% (5/13 bệnh viện). Phần lớn cửa và trần sử dụng vật liệu chưa chống cháy, khẩu độ hẹp và thiếu hệ thống biển báo dạ quang chỉ dẫn thoát hiểm khi có sự cố.

  4. Vị trí địa lý ven biển ảnh hưởng như thế nào đến khả năng an toàn của bệnh viện tại Bến Tre? Có 76,92% bệnh viện tại Bến Tre nằm ở khu vực ven biển, trực tiếp đối mặt với rủi ro triều cường ngập úng, bão nhiệt đới và hiện tượng xâm nhập mặn. Điều này khiến các trang thiết bị đặt ở tầng trệt dễ hư hỏng và nguồn nước sinh hoạt, nước chữa cháy bị đe dọa nếu không có giải pháp kỹ thuật bảo vệ chuyên biệt.

  5. Bộ công cụ 307 tiêu chí của Bộ Y tế Việt Nam có điểm gì khác so với bộ công cụ HSI của WHO? Bộ công cụ 307 tiêu chí ban hành theo Quyết định số 4695/QĐ-BYT được Bộ Y tế Việt Nam hiệu chỉnh và mở rộng từ 151 mục của WHO. Bộ tiêu chí trong nước đã loại bỏ các chỉ số không phù hợp với đặc thù xây dựng tại Việt Nam, đồng thời chuẩn hóa thành bảng kiểm chi tiết cho 4 nhóm thành phần giúp các bệnh viện dễ dàng tự đánh giá thực địa.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện 13 bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020–2021 cho thấy tỷ lệ đạt chuẩn Bệnh viện An Toàn trong tình huống khẩn cấp và thảm họa đạt 0%.
  • Kết cấu xây dựng chịu lực (A1) đạt tỷ lệ 61,54%, nhưng phi kết cấu kiến trúc (A2) chỉ đạt 7,69% do rào cản nghiêm trọng từ hệ thống cửa thoát hiểm (15,38%) và an toàn trần (38,46%).
  • Toàn bộ 100% bệnh viện khảo sát đều chưa đạt chuẩn ở nhóm B (thiết bị công trình), nhóm C (chính sách, nhân lực) và nhóm D (trang thiết bị y tế).
  • Luận văn cung cấp cơ sở khoa học và bộ dữ liệu thực chứng chuẩn mực, hỗ trợ ngành y tế Bến Tre nhận diện chính xác các lỗ hổng quản trị rủi ro thảm họa tại 76,92% bệnh viện ven biển.
  • Lãnh đạo các bệnh viện và cơ quan quản lý cần khẩn trương thực hiện kế hoạch nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình SOP và tổ chức diễn tập định kỳ trong giai đoạn 2021–2025 nhằm bảo vệ an toàn tính mạng cho người bệnh và duy trì bền vững hệ thống y tế địa phương.