CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Đại cương về thiên tai, thảm họa và tình huống khẩn cấp ảnh hưởng đến ngành y tế Một số khái niệm về thiên tai, theo Quyết định số 646/QĐ-BYT ngày 13 tháng 02 năm 2021 của Bộ Y tế Ban hành Kế hoạch hành động về chuẩn bị, ứng phó với thiên tai của ngành y tế giai đoạn 2015-2020. Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Thiên tai bao gồm các hiện tượng thiên nhiên như bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ lụt, sạt lỡ đất hoặc sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác [6]. Tình huống khẩn cấp là tình huống bất thường trong đó có những mối đe dọa tức thời và nghiêm trọng đến sinh mạng của con người do hậu quả của thiên tai, của mối đe dọa sắp xảy ra, của quá trình tích tụ các yếu tố bất lợi bị lãng quên, của xung đột dân sự, của sự suy thoái môi trường và các điều kiện kinh tế - xã hội.
Trường hợp khẩn cấp có thể bao gồm cả tình huống trong đó khả năng đối phó của một nhóm dân cư hay một cộng đồng bị suy giảm rõ rệt [6]. Các sự kiện thiên tai, thảm họa ảnh hưởng đến ngành y tế trên thế giới Ngày 7 tháng 12 năm 1988, một trận động đất ở Spitak (Mỹ) đã làm 25.000 người chết, ảnh hưởng đến 160 BV và phòng khám trong các khu vực bị ảnh hưởng của động đất. Trong đó 16 BV bị phá hủy hoàn toàn, 32 BV bị thiệt hại nặng nề. Có 19 cơ sở y tế khác (nhà dưỡng lão, phòng khám) bị phá.
hủy, 4 cơ sở đã hoạt động lại và 9 cơ sở khác cần được sửa chữa. Tổng thiệt hại hơn 1,3 tỷ đô la vào thời bấy giờ [42]. Năm 2004, hàng triệu cuộc sống của người dân Indonesia thay đổi đột ngột ngay sau 8 giờ sáng chủ nhật ngày 26 tháng 12 khi trận động đất lớn nhất trong 40 năm qua làm rung chuyển miền Bắc Sumatra. Trận động đất đã tạo ra một cơn sóng thần lớn di chuyển nhanh chóng trên khắp Ấn Độ Dương, tấn công các khu vực bên bờ biển ở nhiều quốc gia với kết quả thảm khốc ở Indonesia, Thái Lan, Sri Lanka, Ấn Độ và Bangladesh, cũng như các nước châu Á và Đông Phi khác.000 người chết với nhiều người vẫn còn mất tích, trong khi cơ sở hạ tầng, các hoạt động sản xuất và môi trường tự nhiên bị phá hủy hoặc hư hỏng [38].
Ít nhất 42 BV ở Ấn Độ và Sri Lanka đã bị phá hủy sau thảm họa sóng thần này [37].1: Tình hình thiệt hại về y tế của Indonesia năm 2004 (triệu USD) Tài sản bị Chi phí Nhà nước Tư nhân Trợ cấp phá hủy khôi phục BV công 425.251 Trung tâm y tế 30.552 0 772 Hành chính y 42.970 Y tế công cộng 0 41.000 0 0 NVYT thay thế 0 37.641 0 0 Dọn dẹp cơ sở 0 3. Trận động đất vào ngày 12 tháng 1 năm 2010 đã gây ra một tình huống chưa từng có ở Haiti với những hậu quả to lớn ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của xã hội, nó còn vượt ra ngoài khu vực chấn động làm ảnh hưởng đến các khu vực xung quanh.000 người chết và hơn 300.000 người khác bị thương. Gần 2 triệu người dân Haiti đã bị mất nhà cửa và phải rời khỏi khu vực bị ảnh hưởng để tìm nơi ẩn náu ở các tỉnh khác. Hơn 50 BV và trung tâm y tế đã sụp đổ hoặc không sử dụng được.
Tổng thiệt hại của trận động đất hơn 7800 tỷ đô la [41]. Ngày 25 tháng 4 năm 2015, một trận động đất mạnh 7,8 độ richter xảy ra ở phía tây bắc thủ đô Kathmandu của Nepal. Chỉ hơn một tuần sau tác động của nó, số người chết là 7.000 người khác bị thương và còn tăng dần lên. Các ước tính của chính phủ là hơn 70.000 ngôi nhà đã bị phá hủy và hơn tám triệu người bị ảnh hưởng.
Hàng trăm BV và các cơ sở y tế bị phá hủy một phần hoặc hoàn toàn. Vào thời điểm này, những BV còn khả năng hoạt động được luôn trong tình trạng quá tải [47],[48]. Một nghiên cứu tổng kết tình trạng các đợt sơ tán BV diễn ra từ năm 1977 đến năm 1999, trong số 26 cuộc sơ tán được báo cáo vào năm 1992 thì có 15 vụ trong cơn bão Andrew; trong số 33 cuộc sơ tán vào năm 1994, 14 vụ được cho là do trận động đất Northridge. Những ảnh hưởng tương tự đã diễn ra sau trận động đất Loma Prieta năm 1989, cơn bão Bonnie và George năm 1998 và cơn bão Floyd năm 1999.
Một kết luận đáng lo ngại từ những dữ liệu này đã đưa ra là một BV khi đưa ra quyết định sơ tán thì đồng thời các BV khác trong khu vực phải đối mặt với một quyết định tương tự như vậy. Họ phải thực hiện hành động nguy hiểm này khi các dịch vụ y tế đang trong tình. trạng quá tải do thiên tai và ảnh hưởng nhiêm trọng đến sức khỏe của các nạn nhân và bệnh nhân cần bị hạn chế di chuyển [49].2: Bảng số vụ sơ tán cơ sở y tế tại Mỹ từ 1989-1999 Số vụ sơ tán có Năm Số vụ sơ tán Thảm họa chỉ định Trận động đất 1989 19 6 Loma Prieta 1992 26 Bão Andrew 15 Trận động đất 1994 33 14 Northridge Bão Bonnie & 1998 23 8 George 1999 28 Bão Floyde 10 Nghiên cứu của Jayshree Bagaria năm 2008 về sơ tán và bảo vệ các BV trong trường hợp khẩn cấp trong những năm gần đây sau nghiên cứu của Mỹ từ năm 1977 đến 1999. Để đối phó với các thảm họa liên quan đến các sự kiện tự nhiên, 45 BV đã được sơ tán.
Trong đó, 29 BV đã được sơ tán trong hai trận động đất và 15 BV cho ba sự kiện khí tượng thủy văn. Tám vụ trong số này đã được sơ tán trước khi cơn bão đổ bộ, trong đó có bảy vụ để tránh hậu quả của cơn bão Katrina. Đối với các BV còn lại phải sơ tán do lũ lụt và mất điện. Động đất gây ra thiệt hại phi cấu trúc, chẳng hạn như mất điện, thiệt hại nước từ các đường ống bị vỡ, vòi phun nước và bồn chứa trên mái nhà bị vỡ, phá hủy vật tư và hệ thống thông gió hư hỏng dẫn đến việc sơ tán ít nhất 26 BV.
Ngoài ra như vụ cháy rừng năm 2001 gây ra việc sơ tán hai BV ở New South Wales (Úc). Nhiều báo cáo tin tức nhấn mạnh sự cố sơ tán BV trong hậu quả của cơn bão nhiệt đới Allison (2001) và cơn bão Katrina (2005) [37]. Thời gian gần đây hơn là vào năm 2009, có 5 BV ở Luân Đôn đã phải sơ tán một phần hoặc toàn bộ bệnh nhân nội trú, người chăm sóc và NVYT. Sơ tán BV Mater Misericordiae ở Dublin do lũ lụt năm 2009.
Trận động đất năm 2009 ở Sicily bắt buộc phải sơ tán một BV mới được xây dựng do lo ngại rằng nó không thể hoạt động an toàn [37]. Các vụ sơ tán đều có ghi nhận thiệt hại và ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Vì vậy nếu các BV đảm bảo được sự an toàn trong thiên tai sẽ không cần thiết phải sơ tán ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Các sự kiện thiên tai, thảm họa ảnh hưởng đến ngành y tế tại Việt Nam Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung ương, trong 5 năm cuối của thế kỷ 20, bão lụt đã làm chết 12.000 người, nhấn chìm 15.000 tàu thuyền, cuốn trôi và đổ gần 8 triệu ngôi nhà.
Điển hình như thảm họa do cơn bão Linda, năm 2007 trên vùng biển Kiên Giang - Cà Mau, làm chết 1. Lũ đặc biệt lớn ở Nam Trung Bộ xảy ra vào năm 1999 làm chết 780 người. Cho tới những năm đầu của thế kỷ 21, tính từ năm 2002 đến 2010, tần suất và mức độ trầm trọng của thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng, qui mô thiên tai lan rộng khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam với đủ các loại hình từ lũ quét, bão, lụt và sạt lở đất. Số đợt bão lũ và cường độ ngày càng gia tăng.
Cùng với sự gia tăng của thiên tai, số các trường hợp tử vong và thương tích do bão lũ gây nên cũng càng ngày càng gia tăng. Căn cứ theo kết quả của Báo cáo điều tra tác động thiên tai, tại 19 tỉnh thành, trong một thập kỷ từ 1996 đến 2006, 6.353 người chết; 2.753 người mất tích (coi như đã chết) và 7.647 người bị thương do các nguyên nhân trực tiếp của thiên tai. Năm 1996, 1997, 1998, 1999, 2005, 2006 và 2007 là những năm có số các trường hợp tử vong, mất tích, bị thương trên 1000, là các năm có bão và lũ lụt nghiêm trọng. Năm 1997 có số thiệt hại cao nhất là 4.700 người (chủ yếu do cơn bão Linda) tiếp theo là năm 2006 với 2.
Nếu thống kê đầy đủ tại cộng đồng, số người bị thương đến các cơ sở y tế còn cao hơn con số thống kê này. Năm 2008 là năm có “6 kỷ lục về mưa, bão và lũ”, làm 550 người chết và mất tích và liên tục xảy ra dịch tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, sởi, thủy đậu. Tháng 10/2010, các tỉnh miền Trung cũng đối mặt với trận lũ lụt lịch sử, làm ít nhất 76 người tử vong trong 1 tuần. Đối với các thiên tai thường gặp trên thế giới, mỗi loại thiên tai sẽ để lại những mức độ nguy cơ khác nhau trong bùng phát các bệnh truyền nhiễm.
Trong bối cảnh thiên tai của Việt Nam, số liệu cho thấy một số nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm như cúm, tiêu chảy, sốt xuất huyết v.v… đã xuất hiện trong và sau thiên tai như bão, lũ lụt. Tác động của thiên tai đối với cơ sở vật chất ngành Y tế Số liệu về tác động của thiên tai đối với các cơ sở y tế cho thấy, từ năm 1996 đến 2008 đã có 745 cơ sở y tế bị đổ trôi và 8.954 cơ sở bị hư hại do thiên tai. Số lượng cơ sở y tế thiệt hại nhiều vào những năm có nhiều thiên tai xảy ra như năm 1996, 1999, 2000 và 2007. Nguyên nhân thiệt hại của các cơ sở y tế chủ yếu là do bão, lốc tố nhiều hơn là do lũ lụt.