Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Chính trị với đề tài "Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên từ 1961 đến 1968" do sinh viên Hồ Thị Thanh Huệ thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (khóa học 2001 - 2005) dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Phí Văn Thức. Công trình được triển khai trong bối cảnh lịch sử kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, xuất phát từ yêu cầu tổng kết những bài học lịch sử về chiến tranh nhân dân, việc vận dụng đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như vai trò xung kích của thế hệ trẻ đô thị miền Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  1. Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối đấu tranh của học sinh, sinh viên.
  2. Rút ra những bài học kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối với phong trào.
  3. Trình bày phương pháp tổ chức lực lượng lãnh đạo và đấu tranh của học sinh, sinh viên trong giai đoạn 1961 - 1968.
  4. Tái hiện những nét chủ yếu của phong trào học sinh, sinh viên chống hai chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Cục miền Nam và các cấp bộ Đảng (đặc biệt là Khu ủy Sài Gòn - Gia Định) đối với phong trào đấu tranh của tầng lớp học sinh, sinh viên; đồng thời nghiên cứu chính sách thống trị của chính quyền đối phương và đánh giá hiệu quả, tác động thực tế của phong trào đối với cục diện cách mạng.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian các đô thị lớn ở miền Nam Việt Nam (trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Cần Thơ) trong khung thời gian lịch sử từ năm 1961 đến hết năm 1968.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Lao động Việt Nam về chiến tranh nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Về mặt phương pháp luận, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic, cùng các thao tác nghiên cứu chuyên ngành như phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện lịch sử.

Nguồn dữ liệu và tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu bao gồm:

  • Các bài viết, thư từ, tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng.
  • Hệ thống văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương 15 khóa II, Đại hội III, Hội nghị Trung ương 9, 11, 12, 13 khóa III), chỉ thị của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam.
  • Các công trình nghiên cứu lịch sử đã công bố: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975) (Nxb Chính trị quốc gia, 1995); Phong trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học sinh, sinh viên Sài Gòn của Hồ Hữu Nhựt (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1984); Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam (Nxb Thanh niên); Sơ thảo lịch sử phong trào học sinh, sinh viên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam (1945-1998) (Nxb Thanh niên, 1999).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965)

Chương 1 làm rõ bối cảnh đế quốc Mỹ triển khai chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" thông qua Kế hoạch Staley - Taylor và Kế hoạch Johnson - McNamara, sử dụng quân đội chính quyền Sài Gòn làm công cụ chính cùng hệ thống "ấp chiến lược" và cố vấn quân sự Mỹ. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 23/01/1961 quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư. Ngày 31/01/1961, Bộ Chính trị ra chỉ thị chỉ đạo đẩy mạnh phong trào đô thị, kết hợp đấu tranh hợp pháp và không hợp pháp. Về mặt tổ chức quần chúng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời ngày 20/12/1960; tiếp đó ngày 09/01/1961, Hội Liên hiệp Thanh niên Sinh viên Học sinh Giải phóng được thành lập. Ban Cán sự thanh niên Sài Gòn - Gia Định được củng cố do đồng chí Hồ Hảo Hớn làm Bí thư (phụ trách học sinh), các đồng chí Nguyễn Điển và Phan Chánh Tâm phụ trách sinh viên.

Quá trình chỉ đạo đấu tranh của Đảng diễn ra qua các đợt vận động cụ thể:

  • Giai đoạn 1961 - 1962: Phong trào đòi quyền lợi học đường và chống bắt lính bùng nổ, mở đầu bằng cuộc tập hợp 1.000 học sinh tại Sở Thú ngày 17/01/1961 và hơn 1.000 học sinh tại Vườn Bord (Tao Đàn) tháng 03/1961 buộc đối phương bãi bỏ lệ phí thi cử. Năm 1962, 5.000 học sinh, sinh viên và đồng bào tập hợp tại Sở Thú phản đối quân sự hóa học đường và chống việc sáp nhập Hiệu đoàn vào tổ chức thanh niên của chính quyền Sài Gòn. Ngày 26/03/1961, Đội vũ trang Quyết tử học sinh, sinh viên thành lập; ra quân ngày 06/04/1961 tiêu diệt chuyên viên không quân Mỹ William Thomas trên đường Ngô Thời Nhiệm, đánh lựu đạn trụ sở USOM ngày 07/04/1961 tại đường Trần Hưng Đạo làm thương vong 7 cố vấn Mỹ, tổ chức ném thủ pháo vào xe Đại sứ Nolting. Khi các cán bộ như Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành bị đưa ra xét xử ngày 24/05/1962, phong trào phản đối đã lôi cuốn 8.000 học sinh và quần chúng Tân An - Chợ Lớn xuống đường, rải truyền đơn tại các trường Phan Sào Nam, Pétrus Ký, Văn Lang, Hồng Lạc, buộc chính quyền phải hoãn thi hành án tử hình và đày các chiến sĩ ra Côn Đảo.
  • Giai đoạn 1963: Phong trào học sinh, sinh viên hòa cùng làn sóng phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm sau sự kiện hạ cờ Phật giáo ở Huế ngày 06/05/1963. Học sinh, sinh viên Huế tuyệt thực 45 giờ và biểu tình ngày 03/06/1963. Sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 10/06/1963 dẫn đến cuộc biểu tình ngày 16/06/1963 với sự tham gia của 70 vạn quần chúng Sài Gòn (trong tổng số 2 triệu người toàn miền Nam). Ngày 24 - 25/08/1963, học sinh, sinh viên các trường Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản đồng loạt bãi khóa, biểu tình trước chợ Bến Thành chống lệnh thiết quân luật. Ngày 29/08/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố lên án tội ác của Mỹ - Diệm. Cuộc khủng hoảng chính trị dẫn đến vụ đảo chính lật đổ Diệm - Nhu ngày 01/11/1963.
  • Giai đoạn 1964 - 1965: Phong trào chuyển sang thế tiến công trực diện chính quyền quân sự Nguyễn Khánh. Ngày 20/08/1964, hơn 2.000 học sinh, sinh viên Sài Gòn họp tại số 4 Duy Tân phát động "tuần lễ đấu tranh chống Hiến chương Vũng Tàu". Ngày 25/08/1964, 3 vạn người bao vây Dinh Thủ tướng của Nguyễn Khánh, buộc chính quyền phải hủy bỏ bản Hiến chương này. Tại Đà Nẵng, quần chúng và học sinh chiếm giữ Tòa thị chính và làm chủ thành phố suốt 9 ngày (25/08 - 03/09/1964). Cuối năm 1964, học sinh bãi khóa chống Thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hương; cuộc biểu tình ngày 25/11/1964 bị đàn áp khiến học sinh Lê Văn Ngọc (trường Thời Đại) hy sinh. Ngày 23/01/1965, sinh viên Huế biểu tình đập phá Tòa Thông tin Hoa Kỳ, xé cờ Mỹ, góp phần làm sụp đổ hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt".

Chương 2: Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968)

Chương 2 phân tích sự chỉ đạo của Đảng khi Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam, chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 03/1965) và lần thứ 12 (tháng 12/1965) xác định quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược trong mọi tình huống.

Về mặt văn hóa - giáo dục, chính quyền đối phương đưa cố vấn Mỹ (phái đoàn Đại học Missouri - Rolla, Đại học Florida, Hội Y sĩ/Nha sĩ Mỹ) vào cải cách chương trình học, du nhập lối sống thực dụng và phong trào hippy, đồng thời tiến hành quân sự hóa học đường. Để đối phó, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo phong trào phát triển trên nhiều mặt trận:

                            CÁC MŨI ĐẤU TRANH CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN (1965 - 1968)
Bảo vệ văn hóa dân tộc   Đòi chuyển ngữ tiếng Việt           Đòi tự trị đại học       Chống quân sự hóa học đường
  - Nguyệt san Tin Văn     - Báo "Chuyển ngữ"                 - ĐH Y khoa (1967)        - Chống Luật 04/67, Luật 3/68
  - Tạp chí Sinh viên #4   - Soạn "Từ điển Danh từ khoa học"  - Đại hội tháng 8/1967    - Chống "Sư đoàn SV bảo vệ thủ đô"
  • Bảo vệ văn hóa dân tộc và nhân phẩm phụ nữ: Xuất hiện các tổ chức công khai như Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc (với cơ quan ngôn luận là nguyệt san Tin văn), Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ. Tổng hội Sinh viên Sài Gòn dành riêng số 4 của Tạp chí Sinh viên (01/07/1967) để lên án ảnh hưởng của lối sống ngoại lai và các ấn phẩm đồi trụy.
  • Đòi dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở bậc đại học: Phong trào do Ủy ban thanh niên, sinh viên, học sinh đòi chuyển ngữ ở Đại học (Chủ tịch Hồ Hữu Nhựt) lãnh đạo, phát hành tờ báo Chuyển ngữ. Tại Đại học Khoa học, Giáo sư Lê Văn Thới cùng các giảng viên biên soạn cuốn Từ điển Danh từ khoa học làm nền tảng cho việc giảng dạy bằng tiếng Việt.
  • Đòi quyền tự trị đại học: Nổ ra gay gắt khi chính quyền can thiệp vào cơ cấu nhân sự Trường Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1967. Tháng 08/1967, Đại hội sinh viên Sài Gòn đòi tự trị đại học diễn ra với 2.500 đại biểu tham dự, bầu Ban Chấp hành do Hồ Hữu Nhựt làm Chủ tịch, Dương Văn Đồng làm Tổng Thư ký.
  • Chống quân dịch và chống bầu cử gian lận: Sinh viên phản đối Luật Động viên 04/67; biểu tình liên tục từ ngày 09 đến 21/09/1967 tố cáo gian lận trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 03/09/1967 của liên danh Thiệu - Kỳ. Ngày 24/09/1967, Đại hội sinh viên Liên viện Đại học biểu tình đốt thùng phiếu trước trụ sở Quốc hội ngụy quyền.
  • Tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968: Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 12/1967), lực lượng Thành đoàn và học sinh, sinh viên đã tham gia trực tiếp vào đợt 1 (đêm 30 - 31/01/1968), lập căn cứ tại Cô nhi viện Phú Thọ (Quận 11), huy động cơ sở chính trị và vũ trang tại khu vực Bàn Cờ, Vườn Chuối. Sinh viên thành lập Ủy ban Thanh niên, sinh viên, học sinh cứu trợ đồng bào bị nạn tại số 4 Duy Tân do Nguyễn Thành Công làm Chủ tịch. Trong đợt 2 (ngày 05/05/1968), học sinh, sinh viên tham gia các tổ xung kích, rải truyền đơn, nổ súng tại Cầu Chữ Y, Khánh Hội, Bàn Cờ, Trương Minh Giảng, Cầu Tre. Cuối năm 1968, Phong trào đấu tranh đòi hòa bình ra đời (10/11/1968), tổ chức đêm văn nghệ biểu tình ngày Noel 24/12/1968 và ngày 29/12/1968 đòi rút quân Mỹ, lập lại hòa bình.

Khóa luận cũng chỉ ra một số hạn chế của Thành đoàn giai đoạn này: việc vận dụng nghị quyết có lúc chưa nhuyễn, thiếu kế hoạch dài hạn, bị động theo tình hình; trong phong trào chống bầu cử gian lận tháng 09/1967 đưa khẩu hiệu chống Mỹ chưa đúng thời điểm khiến địch có cớ đàn áp cơ sở trước đợt Mậu Thân.

Chương 3: Đặc điểm và kinh nghiệm Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên từ năm 1961 đến 1968

Chương 3 tổng kết các vấn đề lý luận và thực tiễn:

1. Một số đặc điểm của phong trào:

  • Đấu tranh chống chính sách giáo dục thực dân mới của Mỹ là một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, gắn liền cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các yêu sách dân sinh, dân chủ học đường (chống tăng học phí, đòi dạy tiếng Việt, chống quân sự hóa) gắn liền với mục tiêu chính trị chống ngoại xâm.
  • Phong trào diễn ra liên tục, với hình thức phong phú, luôn giữ thế chủ động tiến công địch; đóng vai trò "ngòi pháo" và lực lượng xung kích chính trị tại các đô thị miền Nam.

2. Một số bài học kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng:

  • Vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh phong phú (mít tinh, bãi khóa, hội thảo, rước đuốc, biểu tình đường phố, văn nghệ xung kích, đấu tranh nghị trường và vũ trang tự vệ) với nội dung phù hợp từng đối tượng quần chúng.
  • Kết hợp chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền phát động quần chúng với xây dựng tổ chức lực lượng, đấu tranh giành quyền làm chủ ngay trong khuôn viên nhà trường; khéo léo kết hợp giữa các tổ chức bí mật (Ban Cán sự Đảng, Đoàn thanh niên, Đội Quyết tử) với các tổ chức công khai, bán công khai hợp pháp (Tổng hội Sinh viên, Hội đồng đại diện sinh viên, các Ủy ban phong trào).
Giai đoạn Chiến lược của đối phương Mục tiêu - Khẩu hiệu trọng tâm của phong trào Các sự kiện và hình thức đấu tranh tiêu biểu
1961 - 1965 Chiến tranh đặc biệt (Kế hoạch Staley - Taylor, Johnson - McNamara) Bãi bỏ lệ phí thi cử, chống dồn ấp chiến lược, chống đàn áp Phật giáo, đòi hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu, lật đổ chế độ Diệm - Nhu và chính quyền quân phiệt. - Đội Quyết tử HSSV tấn công sĩ quan Mỹ William Thomas, trụ sở USOM (1961).
- Biểu tình chống xét xử Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư (1962).
- Tuyệt thực, bãi khóa, mít tinh chống Diệm đàn áp Phật giáo (1963).
- Bao vây Dinh Thủ tướng ép Nguyễn Khánh xé Hiến chương Vũng Tàu; làm chủ Đà Nẵng 9 ngày (1964).
1965 - 1968 Chiến tranh cục bộ (Quân viễn chinh Mỹ, chiến lược "Tìm diệt" và "Bình định") Chống văn hóa đồi trụy, đòi chuyển ngữ tiếng Việt ở đại học, đòi tự trị đại học, chống Luật Động viên 04/67, chống bầu cử gian lận Thiệu - Kỳ, đòi hòa bình và rút quân Mỹ. - Xuất bản nguyệt san Tin văn, Tạp chí Sinh viên số 4 (1967).
- Ủy ban đòi chuyển ngữ ra báo Chuyển ngữ, biên soạn Từ điển Danh từ khoa học.
- Đại hội 2.500 sinh viên đòi tự trị đại học (tháng 8/1967).
- Bỏ thi, đốt thùng phiếu phản đối bầu cử gian lận (09/1967).
- Vũ trang phối hợp Tổng tiến công Mậu Thân 1968 (đợt 1 và đợt 2); thành lập trung tâm cứu trợ số 4 Duy Tân.
- Biểu tình đêm Noel 24/12/1968 và ngày 29/12/1968 đòi hòa bình.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc xử lý tư liệu lịch sử:

  • Tái hiện có hệ thống quá trình Đảng hoạch định đường lối và trực tiếp chỉ đạo phong trào học sinh, sinh viên miền Nam vượt qua các giai đoạn thử thách ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1961 - 1968).
  • Làm rõ nghệ thuật chỉ đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định và Trung ương Cục trong việc kết hợp các hình thức đấu tranh công khai, bán công khai và bí mật; thành lập các tổ chức quần chúng hợp pháp lồng ghép với xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ đô thị.
  • Đánh giá khách quan vị trí lịch sử của phong trào học sinh, sinh viên với tư cách là "ngòi pháo" châm ngòi cho các phong trào đấu tranh chính trị tại đô thị, góp phần làm phá sản lần lượt hai chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" của đối phương.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để rút ra 2 đặc điểm lớn và 2 bài học kinh nghiệm về công tác vận động thanh niên, học sinh, sinh viên có giá trị tham khảo cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhìn nhận các giới hạn nhất định:

  • Do điều kiện và khả năng nghiên cứu có hạn, đề tài chỉ tập trung giới hạn trong khung thời gian từ năm 1961 đến năm 1968, chưa bao quát toàn bộ tiến trình kháng chiến chống Mỹ đến năm 1975.
  • Địa bàn khảo sát chủ yếu tập trung sâu tại đô thị Sài Gòn - Gia Định, các địa bàn đô thị khác như Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt chỉ được đề cập ở mức độ phối hợp sự kiện.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra là tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát phong trào học sinh, sinh viên miền Nam trong giai đoạn 1969 - 1975 (thời kỳ chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"), để hoàn thiện bức tranh toàn diện về phong trào thanh niên học sinh, sinh viên trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên, giảng viên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại tham khảo về phương pháp tiếp cận và hệ thống hóa sự kiện phong trào đô thị.
  • Những người nghiên cứu về lịch sử phong trào thanh niên, sinh viên Việt Nam và lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh TP. Hồ Chí Minh.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống sự kiện chi tiết về các phong trào đấu tranh chuyên biệt trong học đường giai đoạn 1965 - 1968 (phong trào đòi chuyển ngữ tiếng Việt, đòi tự trị đại học, thành lập các ủy ban cứu trợ chiến tranh) cùng việc phân tích vai trò của Ban Cán sự thanh niên qua các thời kỳ.

Câu hỏi thường gặp

1. Ban Cán sự thanh niên Sài Gòn - Gia Định năm 1961 được cơ cấu nhân sự như thế nào?
Năm 1961, Ban Cán sự thanh niên được thành lập do đồng chí Hồ Hảo Hớn làm Bí thư. Về phân công nhiệm vụ, đồng chí Hồ Hảo Hớn trực tiếp phụ trách mảng học sinh; phụ trách mảng sinh viên là các đồng chí Nguyễn Điển và Phan Chánh Tâm.

2. Đội vũ trang Quyết tử học sinh, sinh viên Sài Gòn thành lập khi nào và có những hoạt động tiêu biểu nào trong năm 1961?
Đội được thành lập ngày 26/03/1961. Trong năm 1961, Đội đã thực hiện trận đánh đầu tiên ngày 06/04/1961 tiêu diệt chuyên viên cao cấp không quân Mỹ William Thomas tại đường Ngô Thời Nhiệm; ngày 07/04/1961 tấn công bằng lựu đạn vào trụ sở cơ quan USOM tại đường Trần Hưng Đạo làm thương vong 7 cố vấn Mỹ; và tổ chức ném thủ pháo vào xe của Đại sứ Mỹ Frederick Nolting.

3. Phong trào đòi chuyển ngữ tiếng Việt ở bậc đại học giai đoạn 1966 - 1967 diễn ra với các sự kiện cụ thể nào?
Phong trào bùng nổ từ Đại học Y khoa (500 sinh viên hội thảo với khẩu hiệu "Dân tộc Việt học tiếng Việt"), lan sang Đại học Khoa học và Đại học Sư phạm. Các lực lượng đã thành lập Ủy ban thanh niên, sinh viên, học sinh đòi chuyển ngữ ở Đại học do Hồ Hữu Nhựt làm Chủ tịch, xuất bản tờ báo Chuyển ngữ. Tại Đại học Khoa học, Giáo sư Lê Văn Thới cùng các giảng viên đã biên soạn cuốn Từ điển Danh từ khoa học làm căn cứ giảng dạy đại học bằng tiếng Việt.

4. Học sinh, sinh viên miền Nam tham gia phục vụ và chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 như thế nào?
Học sinh, sinh viên đã trực tiếp cầm súng chiến đấu cùng Quân Giải phóng tại các khu vực Phú Thọ (Quận 11), Bàn Cờ, Vườn Chuối (đợt 1); tham gia các tổ đột kích tại Cầu Chữ Y, Khánh Hội, Thị Nghè, Bàn Cờ (đợt 2 ngày 05/05/1968). Về mặt công khai, sinh viên thành lập Ủy ban Thanh niên, sinh viên, học sinh cứu trợ đồng bào bị nạn do Nguyễn Thành Công làm Chủ tịch, đặt trung tâm cứu trợ tại số 4 Duy Tân với khẩu hiệu "tay nắm, tay che".

5. Khóa luận chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm nào trong sự chỉ đạo của Thành đoàn giai đoạn 1965 - 1968?
Văn bản chỉ rõ hai khuyết điểm chính: Thành đoàn có thời điểm chưa vận dụng nhuần nhuyễn chỉ thị, nghị quyết của Đảng, thiếu kế hoạch chỉ đạo dài hạn và còn bị động theo tình hình; trong phong trào chống gian lận bầu cử tháng 09/1967, việc điều khiển đấu tranh chưa chặt chẽ, đưa khẩu hiệu chống Mỹ chưa đúng thời điểm khiến đối phương có cớ đàn áp cơ sở trong lúc cách mạng cần tập trung bảo toàn lực lượng cho đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Thị Thanh Huệ đã phục dựng có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam qua hai giai đoạn chiến lược 1961 - 1965 và 1965 - 1968. Công trình làm sáng tỏ nghệ thuật tổ chức lực lượng, kết hợp đa dạng các hình thức đấu tranh chính trị, học đường, văn hóa và tự vệ vũ trang tại các đô thị lớn. Qua đó, tác giả đúc kết các bài học lịch sử về vai trò xung kích của học sinh, sinh viên, phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.