Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TIỀN VAY 1. Một số khái niệm trong đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay 1. Khái niệm giao dịch bảo đảm Trong các giao dịch dân sự, chủ thể có quyền luôn quan tâm đến khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của chủ thể có nghĩa vụ. Do đó, các quy định giao dịch bảo đảm hay biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ra đời trước hết là nhằm hướng đến mục tiêu bảo vệ chủ thể có quyền trong quan hệ giao dịch dân sự.
Ở Việt Nam, khái niệm giao dịch bảo đảm được nhìn nhận chủ yếu dưới giác độ là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng. Trước khi BLDS ra đời khái niệm về giao dịch bảo đảm lần đầu tiên được biết đến dưới góc độ là đối tượng của hoạt động đăng ký nhằm mục đích công khai hoá các nội dung liên quan đến giao dịch bảo đảm như Bên chủ thể quyền (giao dịch) cũng như các quyền (giao dịch) tồn tại từ trước đối với tài sản bảo đảm theo đơn đề nghị của người yêu cầu. Với sự ra đời của BLDS 1995, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã được quy định đầy đủ hơn, bao gồm các quy định chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và các quy định cụ thể về từng biện pháp như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm. Tuy nhiên, một số quy định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có hiệu lực thi hành song song với BLDS 1995 đã làm cho tình trạng cùng tồn tại các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự và pháp luật kinh tế có nhiều quan điểm và nội dung pháp lý không thống nhất.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, để thi hành các quy định của BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong 11 z quan hệ tín dụng, Ngân hàng nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng về lĩnh vực này. BLDS 2005 đưa ra khái niệm “giao dịch bảo đảm” một cách bao quát hơn, theo đó “giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại Khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này” [37, Điều 323, Khoản 1]. Các biện pháp bảo đảm đó là: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, tín chấp. Trong giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm dùng tài sản của mình để bảo đảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự đối với bên có quyền.
Trong đó, bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp. Còn bên nhận bảo đảm là bên có quyền trong quan hệ dân sự mà việc thực hiện quyền đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm, bao gồm bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận bảo lãnh, tổ chức tín dụng trong trường hợp tín chấp và bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại trong trường hợp ký quỹ. Như vậy, giao dịch bảo đảm là các giao dịch được xác lập nhằm tạo ra những “phương thức bảo đảm” cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các giao dịch dân sự như hợp đồng tín dụng và từ các căn cứ pháp lý khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Giao dịch bảo đảm là sự thoả thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, theo đó bên bảo đảm dùng tài sản của mình (tài sản bảo đảm) để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch dân sự.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thoả thuận, thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Khái niệm giao dịch bảo đảm tiền vay Theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng đã đưa ra khái niệm về bảo đảm tiền vay: “Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay” [14, Điều 2, Khoản 1]. Đến Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm được ban hành để thay thế Nghị định 178/1999/NĐ-CP để thống nhất các giao dịch bảo đảm nói chung với bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Nghị định 163 được ban hành sau khi BLDS 2005 có hiệu lực, nhằm cụ thể hóa điều 318 của BLDS 2005 quy định các biện pháp đảm bảo nghĩa vụ dân sự.
Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 1. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: a) Cầm cố tài sản; b) Thế chấp tài sản; c) Đặt cọc; d) Ký cược; đ) Ký quỹ; e) Bảo lãnh; g) Tín chấp [37, Điều 318]. Tuy nhiên, tại Nghị định 163 không có quy định nào nêu lên định nghĩa về giao dịch bảo đảm hoặc giao dịch bảo đảm tiền vay mà chỉ liệt kê các biện pháp bảo đảm như tại điều 318 BLDS 2005. Đây cũng là đặc thù một số quy định trong pháp luật ở Việt Nam chỉ mang tính liệt kê, chứ không đưa ra định nghĩa cụ thể.
Căn cứ vào khái niệm của giao dịch bảo đảm và tiếp cập theo chức năng của các giao dịch bảo đảm tiền vay, chúng ta có thể định nghĩa giao dịch bảo đảm tiền vay như sau: “Giao dịch bảo đảm tiền vay là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cho vay nhận bảo đảm bằng quyền đối với tài sản của bên vay hoặc bên thứ ba nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ trong một thời gian nhất định trong tương lai”. Như vậy, giao dịch bảo đảm tiền vay có thể được xác lập giữa bên cho 13 z vay với bên vay hoặc với một bên thứ ba nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho bên vay khi đến hạn trả nợ theo thỏa thuận. Khái niệm tài sản bảo đảm tiền vay “Tài sản” theo ý nghĩa pháp lý được thể hiện dưới các dạng là: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [37, Điều 163]. Bên cạnh đó, các quyền tài sản cũng có thể là tài sản đảm bảo tiền vay.
Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai. Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về tài nguyên [37, Điều 322]. Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm đưa ra khái niệm về tài sản bảo đảm: “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm” [16, Điều 3].
Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch [16, Điều 4]. Điều kiện của tài sản được dùng để đảm bảo là cho việc thực hiện nghĩa vụ phải thỏa mãn“vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch” [37]. 14 z Theo quy định trên, “tài sản đảm bảo phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm” có điểm mâu thuẫn nội tại với quy định “tài sản hình thành trong tương lai”.
Bởi thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm, thì tài sản này vẫn chưa hoàn toàn thuộc sở hữu của bên bảo đảm. Như vậy, tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm hoặc tài sản hình thành trong tương lai được bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên nhận bảo đảm. Khái niệm đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay Đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những cơ chế điều tiết việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, với mục tiêu công bố công khai quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm. Qua đó, các cá nhân, tổ chức có nguồn thông tin để tìm hiểu trước khi xem xét, quyết định giao kết hợp đồng, cho vay vốn.
Với vai trò bảo vệ nhà đầu tư, tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn trong hoạt động tín dụng, thương mại, đăng ký giao dịch bảo đảm còn làm căn cứ để xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản được bảo đảm để thực hiện cho nhiều nghĩa vụ theo thứ tự thời gian công khai hóa, nó tồn tại như một yếu tố tự nhiên trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, đăng ký giao dịch bảo đảm là việc nhà nước (hoặc các chủ thế khác do Nhà nước ủy quyền) công nhận một tình trạng đã được bảo đảm cho một nghĩa vụ hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự nhất định.