Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và đảm bảo an toàn tín dụng tại các NHTM Chương 2: Thực trạng đảm bảo an toàn tín dụng của NHTM Việt Nam. Chương 3: Giải pháp đảm bảo an toàn tín dụng đối với các NHTM Việt Nam 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG VÀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Đảm bảo an toàn tín dụng là hệ thống các biện pháp tác động từ phía chính phủ, NHNN và NHTM thông qua các quy định, bộ máy quản lý nhằm mục đích ngăn ngừa, giảm thiểu tối đa việc tổn thất trong quá trình cấp tín dụng. Do đó ngân hàng hoạt động ổn định, có hiệu quả, tránh đỗ vỡ. Rủi ro tín dụng gây mất an toàn tín dụng trong hoạt động ngân hàng.
Tác động cụ thể như sau: Nếu người được cấp tín dụng trả nợ không đúng hạn, thường xuyên trể hạn dưới 10 ngày, nguy cơ ngân hàng cơ cấu nợ cho khách hàng, bao gồm việc điều chỉnh kỳ hạn hay gia hạn. Việc này sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn, kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng. Ảnh hưởng đến việc chi trả những khoản tiền gởi đến hạn của người gởi tiết kiệm. Trường hợp người được cấp tín dụng ngưng hẳn việc trả nợ, việc ngưng trả nợ quá 10 ngày thì khoản nợ thành quá hạn, phân loại nợ nhóm 2 hoặc cao hơn, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro, phát sinh các chi phí để xử lý khoản vay như chi phí giám sát, khởi kiện, … khách hàng không trả được nợ nên nguồn vốn đóng băng, khan hiếm nguồn tiền giải ngân mới, lợi nhuận giảm do không thu được lãi.
Tình huống xấu nhất, khi xử lý tài sản không thu đủ nợ thì ngân hàng bị lỗ vốn, số tiền lỗ vốn lớn gây thua lỗ cho cả ngân hàng, khách hàng gửi tiền mất niềm tin sẽ rút vốn ồ ạt. Ngân hàng chi trả không kịp thời sẽ gây mất thanh khoản và sẽ dễ dẫn đến phá sản. 3 Vì vậy có thể nói, nếu rủi ro tín dụng không được ngân hàng kiểm soát tốt sẽ dẫn đến mất an toàn tín dụng, gây rủi ro hệ thống, có thể dẫn đến phá sản một ngân hàng, ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế Rủi ro tín dụng chia thành một vài thành phần như : (1) rủi ro vỡ nợ, (2) rủi ro giảm uy tín, (3) rủi ro nguy cơ tức là sự bất trắc về giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết, (4) thua lỗ do vỡ nợ (LGD) thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba, (5) rủi ro đối tác là một hình thức của rủi ro tín dụng cụ thể xuất phát từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác. Rủi ro vỡ nợ là khi người đi vay không thể đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ.
Vỡ nợ gây ra thua lỗ một phần hoặc toàn phần đối với khoản tiền được cho vay. Có nhiều sự kiện vỡ nợ như chậm trể trong nghĩa vụ trả nợ, tái cấu trúc nghĩa vụ trả nợ do sụt giảm uy tín tín dụng đáng kể của người đi vay, phá sản. Chậm trể trả nợ không giống như vỡ nợ đơn thuần tức là khả năng không thể đáp ứng nghĩa vụ trả nợ. Sư chậm trể này có thể được giải quyết trong thời gian ngắn.
Tái cấu trúc nếu bắt nguồn từ sự mất khả năng trả nợ trừ khi cấu trúc nợ thay đổi, giống với vỡ nợ. Vỡ nợ đơn thuần có nghĩa là không trả nợ vĩnh viễn. Phá sản, thanh lý công ty hay thâu tóm một công ty khó khăn là những kết quả có thể xảy ra. Chúng gây ra những thua lỗ đáng kể.
Rủi ro nguy cơ là độ lớn của lượng tiền có thể gặp rủi ro. Đối với một khoản vay, đó là số tiền cho vay cộng lãi suất. Rủi ro nguy cơ bắt nguồn từ những nguy cơ tương lai-lượng tiền nợ-có nhiều bất trắc. Vì chỉ có nguy cơ tương lai mới có thể gây ra thua lỗ trong trường hợp vỡ nợ và vì chúng không chắc chắn, điều đó dẫn tới rủi ro nguy cơ.
Thuật ngữ “ nguy cơ vỡ nợ” EAD đo lượng tiền có thể gặp rủi ro. Các khoản vay thường có thời gian biểu trả tiền trong hợp đồng, nhưng chúng có rủi ro nguy cơ vì người đi vay có thể thương lượng lai. Hạn mức tín dụng củ ngân hàng là cam kết của ngân hàng phải cung cấp vốn khi người đi vay cần. Người cho vay chấp nhận sẽ cho vay cho tới một lượng tối đa trong một thời gian nhất định.
Lượng tiền rút ra là lượng tiền cho vay. Lượng tiền chưa rút ra là phần còn lại của 4 hạn mức tín dụng. Cả hai đều có những ẩn số vì phụ thưộc vào việc người đi vay có tận dụng hết hạn mức tín dụng không. Rủi ro tương quan và rủi ro tập trung: đối với những danh mục đầu tư của các khoản vay và công cụ thu nhập cố định, một nhân tố nữa dẫn đến thua lỗ tín dụng là tương quan thua lỗ, xác định thua lỗ có hay xảy ra độc lập hay cùng nhau.
Tương quan thua lỗ càng cao thì rủi ro tín dụng càng cao. Tương quan thua lỗ giống như rủi ro tập trung. Tập trung tức là một lượng tiền lớn được một số ít người vay với uy tín tín dụng tốt, gây ra những thua lỗ lớn mặc dù xác suất thấp. Sự tương quan là một khái niệm khác vì nó áp dụng cho tất cả những người đi vay bất kể kích cỡ khoản nợ của họ.
Các kết quả giống nhau. Nếu nhiều người vay nhỏ cùng vỡ nợ một lúc, kết quả thua lỗ lớn giống như khi một khoản nợ lớn vỡ nợ… 1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng ngân hàng 1.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng Sử dụng vốn sai mục đích: Khi tiến hành vay vốn, các doanh nghiệp phải trình phương an vay vốn khả thi, đây là điều kiện để ngân hàng xét duyệt cho vay. Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, rút tiền ra khỏi ngân hàng thì khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích ban đầu, ví dụ vay vốn để bổ sung vốn ngắn hạn sản xuất kinh doanh nhưng lại dùng để đầu tư cổ phiếu và bất động sản. Sau khi giải ngân, việc kiểm tra theo dõi giám sát vốn vay là rất quan trọng.
Tuy nhiên, cán bộ tín dụng lơ là tạo điều kiện cho số vốn sử dụng sai mục đích ngày càng nhiều. Đến khi khách hàng không còn khả năng chi trả thì ngân hàng mới biết khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích ban đầu báo cáo với ngân hàng. Khả năng quản lý kinh doanh kém: Đây là nguyên nhân xuất phát từ trình độ kinh nghiệm của người đi vay. Người có trình độ thấp và kinh nghiệm ít thường kinh doanh kém hiệu quả hơn người có trình độ và nhiều năm kinh nghiệm trong nghề.
Khi kinh nghiệm quản lý đạt trình độ cao, họ thường xử lý công việc dễ dàng, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, thì tư duy quản lý, bộ máy tổ chức cũng phải thay đổi. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp không làm được điều này nên dẫn đến quá sức và gặp rủi ro hoạt động, ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn vay. 5 Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: chuẩn mực kế toán nước ta phải chưa theo kịp các nước phát triển.
Các doanh nghiệp nước ta đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể. Nên các báo cáo tài chính thường không có hoặc có báo cáo tài chính nhưng độ chính xác không cao. Các báo cáo tài chính doanh nghiệp tự lập và thường không được kiểm toán. Có có trường hợp doanh nghiệp đang thua lỗ nhưng trên báo cáo tài chính doanh nghiệp vẫn đang có lời.
Trong trường hợp này doanh nghiệp thường bị quá hạn sau vài tháng cấp tín dụng nếu như cán bộ tín dụng không thẩm định thực tế tình hình kinh doanh của khách hàng.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng Trước hết phải nói đến các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chính sách tín dụng ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, danh mục lựa chọn khách hàng trong từng giai đoạn… Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng có thể được khái quát cơ bản dưới đây: Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng,… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng. Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích. Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay. Chạy theo số lượng (hoặc theo kế hoạch) mà sao lãng việc coi trọng chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh doanh của khách hàng.
Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ. Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước 6 khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung.