Tổng quan luận án
Vấn đề bảo đảm an ninh chính trị tại các vùng dân tộc thiểu số và khu vực biên giới đất liền là nhiệm vụ trọng yếu, gắn liền với sự ổn định thể chế và bảo vệ an ninh quốc gia. Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc, có đường biên giới tiếp giáp hai quốc gia Lào và Trung Quốc dài trên 400 km, trong đó tuyến biên giới Việt - Lào dài 360 km và tuyến biên giới Việt - Trung dài 40,86 km. Địa bàn này là nơi cư trú của 21 dân tộc, giữ vị trí địa - chính trị xung yếu. Từ sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động "diễn biến hòa bình", lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, nhen nhóm ý đồ lập "Vương quốc Mông", tuyên truyền phát triển đạo Tin lành trái pháp luật, gây mâu thuẫn dân tộc và phức tạp hóa an ninh trật tự (tranh chấp đất đai, di cư tự do, mua bán ma túy, tàng trữ vũ khí). Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về an ninh Tây Bắc và an ninh biên giới, song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên dưới giác độ vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ lý luận về đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền; đánh giá thực trạng trên tuyến biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2016; từ đó dự báo tình hình và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn nội dung:
- Phân tích, luận giải những vấn đề lý luận về đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền như khái niệm, quan điểm, chủ thể, nội dung và các nhân tố tác động.
- Khảo sát, đánh giá tình hình và thực trạng đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên; chỉ rõ những vấn đề đặt ra trong đảm bảo an ninh chính trị tại địa bàn này.
- Dự báo tình hình an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên về khả năng diễn biến tình hình cùng những thuận lợi, khó khăn trong công tác đảm bảo an ninh chính trị.
- Đưa ra hệ thống giải pháp đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên của các lực lượng trong hệ thống chính trị địa phương.
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên ba bình diện:
- Về nội dung: Khảo sát thực trạng đảm bảo an ninh chính trị của tất cả các lực lượng cấu thành hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số.
- Về thời gian: Khảo sát từ năm 2005 đến năm 2016 (mốc thời gian bắt đầu từ năm 2005 được lựa chọn nhằm bảo đảm tính ổn định của số liệu thống kê sau thời điểm tỉnh Điện Biên được chia tách, thành lập từ tỉnh Lai Châu vào tháng 11/2003).
- Về không gian: Nghiên cứu tại địa bàn 23 xã với 305 bản thuộc 03 huyện biên giới gồm Điện Biên, Mường Nhé và Mường Chà. Trong đó, tác giả tập trung khảo sát thực địa tại 12 xã trọng điểm: Mường Nhà, Mường Lói, Na Ư, Thanh Hưng (huyện Điện Biên); Mường Toong, Nậm Kè, Chà Cang, Pa Tần, Sín Thầu (huyện Mường Nhé); Ma Thì Hồ, Mường Mươn, Na Sang (huyện Mường Chà).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản luận án được phân chia thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm nghiên cứu về dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền:
- Sách chuyên khảo của Bế Viết Đằng (1996), "Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi", khẳng định phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở thực hiện chính sách dân tộc.
- Chuyên khảo của Phan Hữu Dật (2001), "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay", điểm lại lý thuyết về quan hệ dân tộc của trường phái Xô-viết và phương Tây, làm cơ sở phân tích quan hệ tộc người xuyên biên giới.
- Kỷ yếu hội thảo của Viện Dân tộc học và Ngân hàng Thế giới (2004), "Xoá đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam", phân tích các rào cản tự nhiên, lịch sử, tập quán canh tác và sự cần thiết chuyển hóa nguồn lực hỗ trợ thành nội lực phát triển.
- Công trình của Phan Văn Hùng (2006) về phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số; Lô Quốc Toàn (2010) về phát triển và đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số; Lưu Văn Sùng (2010) về xử lý điểm nóng chính trị - xã hội tại các vùng đa dân tộc ở miền núi; Nguyễn Đăng Thành (2012) về nguồn nhân lực dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới.
- Chuyên khảo của Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (2014) về các vấn đề kinh tế - xã hội vùng biên giới; Kỷ yếu hội thảo của Ngân hàng Thế giới và Đại học Thái Nguyên (2014) về giảm nghèo vùng núi phía Bắc; Đề tài cấp Bộ của Phạm Quang Hoan (2014) về phát triển bền vững các tỉnh biên giới 2011-2020; Đề tài cấp Nhà nước của Đậu Tuấn Nam (2015) về quan hệ tộc người biên giới Việt - Trung; Chuyên khảo của Lý Hành Sơn và Trần Thị Mai Lan (2017) về quan hệ dân tộc xuyên quốc gia của các tộc người Mông, Thái, Nùng, Hà Nhì.
- Các bài viết chuyên ngành của Vương Duy Quang (văn hóa tâm linh người Mông), Đỗ Ngọc Tấn (hôn nhân gia đình Mông, Dao), Nguyễn Quốc Phẩm (hệ thống chính trị cơ sở), Vương Xuân Tình (quan hệ tộc người xuyên quốc gia, 2016), Lâm Bá Nam và Đậu Tuấn Nam (quan hệ tộc người Tây Bắc, 2016), Nguyễn Trần Trọng (di cư tự do, 2011).
Nhóm nghiên cứu về đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền, biên giới Việt – Lào và tỉnh Điện Biên:
- Đề tài cấp Nhà nước của Nguyễn Văn Tấn (1996) về chiến lược bảo vệ vùng biên giới; Luận án tiến sĩ của Ngô Văn Hùng (2001) về an ninh vùng dân tộc thiểu số miền Bắc; Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Minh Đức (2001) về người có uy tín; Luận án tiến sĩ của Tạ Văn Ngung (2003) về an ninh vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên; Đề tài cấp Bộ của Phạm Ngọc Hiền (2003) về an ninh trật tự các vùng chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; Hoàng Văn Tân (2003) về phòng ngừa tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia vùng biên giới Việt - Trung.
- Các đề tài của Phạm Ngọc Hà (2005) và Nguyễn Bình Vận (2006) về an ninh trật tự và ổn định chính trị vùng dân tộc Mông; Luận án tiến sĩ của Trần Đức Uẩn (2007) về vận động quần chúng giải quyết việc truyền đạo Tin lành trái phép của Bộ đội Biên phòng; Đề tài cấp Bộ của Bùi Quảng Bạ (2008) về an ninh tuyến biên giới đất liền; Đề tài cấp Nhà nước của Trần Hoa (2010) về chiến lược bảo vệ biên giới đến năm 2020; Lê Xuân Thủy (2011) về vùng dân tộc Dao; Nguyễn Huy Thắng (2013) về công tác an ninh vùng dân tộc thiểu số; Luận án của Đinh Vũ Thủy (2013) và đề tài của Phạm Huy Tập (2015) về vai trò của Bộ đội Biên phòng vận động quần chúng vùng Tây Bắc.
- Nhóm đề tài trực tiếp trên tuyến Việt - Lào và địa bàn Điện Biên: Nguyễn Anh Thép (2001) về an ninh tuyến biên giới Việt - Lào; Hà Hạnh (2003) tại Sơn La; Nguyễn Duy Thanh (2006) tại Nghệ An; Trần Quốc Việt (2006) về an ninh biên giới Việt - Lào; Đỗ Văn Ruẩn (2006) về mạng lưới bí mật tại Điện Biên; Nguyễn Ngọc Bội (2008), Sùng A Hồng (2009) về an ninh vùng dân tộc Mông tỉnh Điện Biên; Pờ Pờ Sơn (2009), Phạm Tiến Lộc (2010) về vận động quần chúng bảo vệ an ninh trật tự tại Điện Biên; Vũ Duy Hưng (2011) về an ninh biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên; Tráng A Tủa (2012) về chống lôi kéo thanh niên Mông sang Lào hoạt động phỉ; Tráng A Tủa (2015) về công tác an ninh trật tự vùng dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên của Công an nhân dân.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Hầu hết các công trình đã công bố tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học an ninh, quân sự thuần túy hoặc nghiên cứu văn hóa, dân tộc học riêng lẻ; phạm vi chủ yếu đóng khung trong chức năng, biện pháp nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ Chính trị học về việc đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên gắn với trách nhiệm, cơ chế phối hợp và sự vận hành đồng bộ của toàn thể hệ thống chính trị địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống khái niệm công cụ và văn bản pháp lý chuyên ngành:
- Khái niệm "Biên giới quốc gia" và "Khu vực biên giới đất liền": Dẫn chiếu Điều 6 Luật Biên giới quốc gia năm 2004 và Điều 2 Nghị định số 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của Chính phủ, xác định khu vực biên giới đất liền gồm các xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia, có vành đai biên giới và vùng cấm khi cần thiết.
- Khái niệm "Vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền": Được xác định là nơi cư trú ổn định, tập trung của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn các xã, phường, thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền.
- Khái niệm "An ninh quốc gia" (theo Điều 3 Luật An ninh quốc gia năm 2004), "An ninh trên lĩnh vực dân tộc", "An ninh vùng dân tộc thiểu số" và "An ninh chính trị": Luận án tiếp cận an ninh chính trị theo nghĩa rộng, không chỉ là an ninh nội bộ của các cơ quan công quyền mà bao gồm việc bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân, nền tảng tư tưởng, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh vùng chiến lược và ngăn chặn bạo loạn, lật đổ.
- Khái niệm "Đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền": Là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và mọi công dân trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy lực lượng Công an và Quân đội làm nòng cốt, nhằm giữ vững ổn định thể chế chính trị, việc thực thi chính sách, pháp luật, củng cố khối đại đoàn kết và không để xảy ra bạo loạn.
Luận án đúc kết năm đặc điểm của vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền:
- Địa hình chủ yếu là miền núi, cao nguyên, giữ vị trí "phên dậu" chiến lược xung yếu về quốc phòng, an ninh.
- Cư trú ổn định, đan xen giữa nhiều tộc người, không có lãnh thổ tộc người biệt lập.
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, sản xuất mang tính tự cung tự cấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, kết cấu hạ tầng thiếu thốn, dân trí chưa đồng đều.
- Tồn tại quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên biên giới do nguồn gốc lịch sử chuyển cư lâu đời, dễ bị lợi dụng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi.
- Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng, nhạy cảm; chịu sự xâm nhập nhanh của các hiện tượng tôn giáo mới (đạo Tin lành), tiềm ẩn nguy cơ bị "chính trị hóa tôn giáo" và "tôn giáo hóa vùng dân tộc thiểu số".
Bốn quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước được quán triệt:
- Đảm bảo an ninh chính trị là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt.
- Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW và Nghị định số 05/2011/NĐ-CP.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kế thừa truyền thống lịch sử bảo vệ biên cương của ông cha.
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, kết hợp quốc phòng - an ninh với đối ngoại biên giới hòa bình, hữu nghị.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp thu thập và xử lý định tính cụ thể gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên và các ngành liên quan.
- Phương pháp logic và lịch sử: Khái quát tiến trình vận động, phát triển các chủ trương bảo đảm an ninh chính trị và lịch sử biến động cư dân vùng biên giới.
- Phương pháp so sánh: So sánh đặc thù tuyến biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên với các tuyến biên giới khác để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Hệ thống hóa, phân tích thực trạng công tác đảm bảo an ninh chính trị từ năm 2005 đến năm 2016.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, chỉ huy lực lượng vũ trang am hiểu địa bàn qua các buổi tọa đàm và hội thảo.
- Phương pháp quan sát thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại các xã biên giới trọng điểm để nắm bắt điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán và hoạt động của bộ máy cơ sở.
Nguồn dữ liệu của luận án dựa trên các văn kiện lưu trữ của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên; số liệu báo cáo của Công an tỉnh Điện Biên, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên; dữ liệu hành chính từ 03 huyện Điện Biên, Mường Nhé, Mường Chà và tài liệu điền dã khảo sát tại 12 xã trọng điểm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập hợp, phân loại và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước về hai nhóm vấn đề lớn: nghiên cứu về dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền và nghiên cứu về đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền, tuyến biên giới Việt - Lào, địa bàn tỉnh Điện Biên. Luận án phân tích đóng góp của từng công trình về kinh tế tộc người, chính sách cán bộ, an ninh biên giới, hoạt động tôn giáo trái phép và an ninh trật tự địa phương. Chương 1 chỉ rõ những luận điểm đã được giải quyết và xác định khoảng trống nghiên cứu: sự thiếu vắng một công trình chính trị học đánh giá tổng thể vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị trong việc bảo đảm an ninh chính trị tại vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền của Việt Nam
Nội dung chương 2 tập trung hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài thông qua việc phân tích và chuẩn hóa các khái niệm: dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, biên giới đất liền, an ninh quốc gia, an ninh lĩnh vực dân tộc và an ninh chính trị. Tác giả luận giải năm đặc điểm bản chất của vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền chi phối công tác an ninh; phân tích bốn quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; xác lập nội dung đảm bảo an ninh chính trị bao gồm bảo vệ Đảng, chính quyền, an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng, củng cố khối đoàn kết dân tộc và ngăn chặn bạo loạn. Luận án chỉ rõ chủ thể đảm bảo an ninh chính trị là toàn bộ hệ thống chính trị (cấp ủy Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, lực lượng vũ trang làm nòng cốt, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động quần chúng), đồng thời làm rõ các nhóm nhân tố khách quan, chủ quan, trong nước và ngoài nước tác động đến công tác này.
Chương 3: Đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên – Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 đi sâu khảo sát thực tế tại vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên. Tác giả khái quát các yếu tố vị trí địa lý, đặc điểm 21 dân tộc cùng cư trú, thực trạng kinh tế - xã hội chậm phát triển và hoạt động tôn giáo tín ngưỡng. Tiếp đó, chương đánh giá thực trạng an ninh chính trị từ năm 2005 đến năm 2016, tập trung vào âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng luận điệu "Vương quốc Mông", tình hình truyền đạo Tin lành trái phép, tranh chấp khiếu kiện đất đai, di dịch cư tự do và tội phạm buôn bán ma túy có vũ trang qua biên giới. Tác giả phân tích quyết tâm chính trị của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên và các hoạt động bảo đảm an ninh của hệ thống chính trị cơ sở. Trên cơ sở đó, chương 3 nêu lên các vấn đề cấp bách đang đặt ra: năng lực lãnh đạo và quản lý của hệ thống chính trị cơ sở ở một số xã vùng cao còn yếu; nguy cơ bất ổn từ tư tưởng ly khai, tà đạo; đời sống vật chất của đồng bào còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao làm suy giảm sức đề kháng trước âm mưu chia rẽ.
| Bình diện phân tích thực trạng |
Nội dung và địa bàn khảo sát cụ thể |
| Phạm vi hành chính khảo sát |
23 xã, 305 bản thuộc 03 huyện biên giới: Điện Biên, Mường Nhé, Mường Chà |
| Các xã trọng điểm điền dã |
Mường Nhà, Mường Lói, Na Ư, Thanh Hưng (H. Điện Biên); Mường Toong, Nậm Kè, Chà Cang, Pa Tần, Sín Thầu (H. Mường Nhé); Ma Thì Hồ, Mường Mươn, Na Sang (H. Mường Chà) |
| Các nguy cơ an ninh chính trị chính |
Kích động thành lập "Vương quốc Mông", truyền đạo Tin lành trái phép, di cư tự do, tội phạm ma túy xuyên biên giới, tàng trữ vũ khí trái phép |
| Thực trạng hệ thống chính trị cơ sở |
Năng lực lãnh đạo của một số chi bộ, cán bộ cơ sở người dân tộc thiểu số còn hạn chế; công tác dân vận, nắm tình hình có lúc chưa kịp thời |
Chương 4: Dự báo tình hình và giải pháp đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên thời gian tới
Chương 4 đưa ra các dự báo khoa học về khả năng diễn biến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn, chỉ rõ những thuận lợi từ sự quan tâm của Trung ương và sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cùng các khó khăn do địa hình phức tạp, đời sống đồng bào còn nghèo nàn và hoạt động chống phá tinh vi từ bên ngoài. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống sáu nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang về vị trí, tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số.
- Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên vững mạnh, đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên, tạo nền tảng vững chắc trong đảm bảo an ninh chính trị.
- Tăng cường quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị và hợp tác quốc tế trong đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên.
- Tăng cường xây dựng, bố trí lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đảm bảo an ninh chính trị ở vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên.
- Kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp về an ninh chính trị ở vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nền tảng về an ninh chính trị và đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền dưới giác độ khoa học Chính trị học. Tác giả chuẩn hóa các khái niệm công cụ; phân tích toàn diện năm đặc điểm đặc thù của vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền Việt Nam; luận giải bốn quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; xác định rõ nội dung công tác, cơ cấu chủ thể và các nhân tố ảnh hưởng. Nghiên cứu khẳng định vai trò của toàn thể hệ thống chính trị, vượt ra ngoài phạm vi nhiệm vụ đơn lẻ của các lực lượng vũ trang chuyên trách.
Về mặt thực tiễn, luận án đã khảo sát và dựng lại bức tranh thực trạng an ninh chính trị và công tác đảm bảo an ninh chính trị tại vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2016. Luận án chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân sâu xa, đúc kết thành các bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý địa bàn. Luận án dự báo có căn cứ khoa học về diễn biến tình hình thời gian tới và xây dựng hệ thống sáu nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng trực tiếp đối với công tác lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan tham mưu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án kết thúc ở mốc năm 2016, chưa phản ánh các biến động địa bàn sau giai đoạn này. Không gian nghiên cứu tập trung vào 23 xã biên giới giáp Lào của tỉnh Điện Biên, không bao quát toàn diện tuyến biên giới Việt - Trung (dài 40,86 km) trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, do đặc thù tài liệu an ninh chính trị có độ bảo mật cao, việc tiếp cận một số báo cáo chuyên án, nghiệp vụ sâu của lực lượng chức năng còn có những giới hạn nhất định.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các công trình kế tiếp có thể mở rộng nghiên cứu sang giai đoạn sau năm 2016 nhằm cập nhật các diễn biến mới về chính sách dân tộc và tình hình tôn giáo. Bên cạnh đó, có thể triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa tuyến biên giới Việt - Lào với tuyến biên giới Việt - Trung trên địa bàn tỉnh Điện Biên, hoặc so sánh với các tỉnh lân cận thuộc vùng Tây Bắc như Sơn La, Lai Châu.
Giá trị tham khảo
Về phương diện ứng dụng quản lý và hoạch định chính sách, luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên và ban ngành các huyện Điện Biên, Mường Nhé, Mường Chà trong việc rà soát, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng phương án ứng phó điểm nóng chính trị - xã hội và lồng ghép nhiệm vụ quốc phòng - an ninh vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương.
Về phương diện đào tạo và nghiên cứu học thuật, luận án cung cấp tư liệu thực tế và khung lý thuyết phục vụ giảng dạy, học tập chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Quản lý công, Dân tộc học và Khoa học An ninh tại các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu (như Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các học viện thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng).
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2016?
Tháng 11 năm 2003, tỉnh Điện Biên được thành lập trên cơ sở chia tách tỉnh Lai Châu cũ. Tác giả chọn mốc bắt đầu từ năm 2005 để có khoảng thời gian khảo sát chẵn năm và bảo đảm tính ổn định, đồng bộ của hệ thống hồ sơ, dữ liệu thống kê hành chính sau khi bộ máy chính quyền tỉnh mới đi vào vận hành ổn định đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2016).
2. Địa bàn khảo sát của luận án bao gồm các đơn vị hành chính nào?
Phạm vi không gian của luận án là vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên, bao gồm 23 xã với 305 bản thuộc 03 huyện: Điện Biên, Mường Nhé và Mường Chà. Trong đó, tác giả tập trung điền dã khảo sát tại 12 xã trọng điểm: Mường Nhà, Mường Lói, Na Ư, Thanh Hưng (huyện Điện Biên); Mường Toong, Nậm Kè, Chà Cang, Pa Tần, Sín Thầu (huyện Mường Nhé); Ma Thì Hồ, Mường Mươn, Na Sang (huyện Mường Chà).
3. Khái niệm đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền được định nghĩa ra sao?
Luận án xác định: Đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và mọi công dân vùng dân tộc thiểu số, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với lực lượng Công an, Quân đội làm nòng cốt, nhằm đảm bảo ổn định chính trị, nền tảng tư tưởng, thể chế chính trị, đảm bảo quyền lãnh đạo của Đảng, sự an toàn nội bộ và việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân, không để xảy ra bạo loạn ở vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền.
4. Luận án nêu ra những yếu tố phức tạp nào tác động trực tiếp đến an ninh chính trị địa bàn Điện Biên?
Các yếu tố phức tạp gồm: hoạt động "diễn biến hòa bình" tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xu hướng ly khai, tự trị nhằm thành lập tổ chức phản động "Vương quốc Mông"; hoạt động truyền phát triển đạo Tin lành trái pháp luật; tranh chấp, khiếu kiện đất đai; di dịch cư tự do; buôn bán, vận chuyển ma túy qua biên giới; tàng trữ vũ khí trái phép và phá rừng làm nương rẫy.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp để bảo đảm an ninh chính trị trên địa bàn?
Tác giả đề xuất hệ thống sáu nhóm giải pháp: nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân; củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống; tăng cường phối hợp lực lượng và hợp tác quốc tế; xây dựng lực lượng nòng cốt chuyên trách; kịp thời phát hiện, xử lý hiệu quả các tình huống phức tạp về an ninh chính trị.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đảm bảo an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới Việt - Lào tỉnh Điện Biên hiện nay" của tác giả Đặng Thị Thanh Hoa là công trình nghiên cứu chuyên ngành Chính trị học giải quyết vấn đề bảo vệ thể chế và ổn định an ninh tại địa bàn chiến lược biên giới Tây Bắc. Công trình đã làm rõ hệ thống lý luận về bảo đảm an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số biên giới đất liền gắn với vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dựa trên dữ liệu khảo sát từ năm 2005 đến năm 2016 tại 23 xã thuộc ba huyện Điện Biên, Mường Nhé và Mường Chà, tác giả đã đánh giá khách quan thực trạng, chỉ ra các nguy cơ tiềm ẩn và xây dựng sáu nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm giữ vững an ninh chính trị và chủ quyền biên giới quốc gia.