phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục chữ viết tắt, bảng biểu và sơ đồ, nội dung chính của đề án bao gồm: Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đãi ngộ nhân lực trong tổ chức Phần 2: Thực trạng Đãi ngộ nhân lực của Công ty Cổ phần Thương mại Kim Liên Hà Nội Phần 3: Một số giải pháp hoàn thiện Đãi ngộ nhân lực của Công ty Cổ phần Thương mại Kim Liên Hà Nội 6 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đãi ngộ Theo Lê Quân (2009) “Đãi ngộ là sự nhìn nhận và thừa nhận của doanh nghiệp về các nỗ lực của nhân viên. Đãi ngộ là quá trình bù đắp các hao phí lao động của NLĐ cả về vật chất lẫn tinh thần”.
Đãi ngộ trong doanh nghiệp thông qua hai công cụ: đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính. Theo Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2008): “Đãi ngộ tài chính trong doanh nghiệp là hình thức đãi ngộ thực hiện bằng công cụ tài chính bao gồm nhiều loại khác nhau: tiền lương, tiền thưởng, cổ phần, phụ cấp, trợ cấp, phúc lợi,. Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chỉ đề cập đến một khía cạnh của đãi ngộ liên quan vấn đề tài chính, tác giả chưa đề cập các vấn đề liên quan đến đãi ngộ phi tài chính như môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến. Theo CEO Larry Page của Google khẳng định: “Khi bạn đối xử tốt với nhân viên bạn sẽ nhận được năng xuất cao hơn.
Thay vì quan tâm họ làm việc bao nhiêu giờ hãy chú ý tới năng suất. Chúng ta nên tiếp tục đổi mới mối quan hệ với nhân viên và tìm ra những điều tốt nhất có thể làm cho họ. Do đó, các nhà quản trị cần có nhận thức đầy đủ nhất về đãi ngộ nhân lực trước khi triển khai vào thực tế. Theo Armstrong (2006) trong cuốn “A Handbook of Human Resource Management Practice” định nghĩa: “Đãi ngộ nhân lực là toàn bộ các khoản tiền và lợi ích mà một tổ chức cung cấp cho nhân viên để đổi lấy công việc họ thực hiện.
Đãi ngộ bao gồm cả yếu tố tài chính như lương và phúc lợi, cũng như các yếu tố phi tài chính như cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc tích cực.” Graham và Bennett (1995) trong cuốn Human Resource Management cho rằng: “Đãi ngộ nhân lực không chỉ bao gồm việc trả lương mà còn là các hình thức công nhận khác nhau, từ cơ hội phát triển nghề nghiệp, đào tạo, đến các chế độ phúc lợi xã hội, giúp nhân viên phát triển và hài lòng với công việc.” Như vậy có thể thấy: Đãi ngộ là một quá trình từ việc xây dựng chính sách đãi ngộ, tổ chức thực hiện công tác đãi ngộ đến việc đánh giá công tác đãi ngộ trong doanh nghiệp. Đãi ngộ phải hướng tới việc thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của NLĐ. Đãi ngộ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế thông qua lao động có hiệu quả của đội ngũ nhân sự. Khái niệm nhân lực Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhân lực.
Trong cuốn Giáo trình quản trị nhân lực căn bản (2016), Nguyễn Thị Minh Nhàn và Mai Thanh Lan đã đề cập: “Nhân lực trong tổ chức/ doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức doanh nghiệp”. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2012) đã khẳng định rằng: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính, v.
Trí lực chỉ sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách, v.v của từng con người”. Theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) đã định nghĩa như sau: “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người – mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động – của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm, v.v) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển”. Từ đó chúng ta có thể hiểu rằng: Nhân lực là tập hợp tất cả những người làm việc trong tổ chức hay doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó. Khái niệm quản trị nhân lực Quản trị nhân lực cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Quản trị nhân lực còn được gọi là Quản trị nhân sự, Quản lý nhân sự, Quản lý nguồn nhân lực. Khái niệm về Quản trị nhân lực có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau: Quản trị nhân lực (Human Resources Management - HRM) là một khái niệm quan trọng trong chuỗi khái niệm liên quan đến quản lý con người. Thực ra, trong suốt hơn 50 năm qua, thuật ngữ này đã được sử dụng phổ biến ở Mỹ để thay thế cho thuật ngữ quản trị nhân sự (Personnel Management). Càng về sau này.
HRM được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đặc biệt là các quốc gia tại Châu Âu, Australia, v. HRM được đánh giá là một nhân tố vô cùng quan trọng trong bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào. Write và MacMahan (1992) lại coi quản trị nhân lực là “các đặc tính của các hành động liên quan tới nhân sự nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh doanh”. Storey (2001) đã cho rằng quản trị nhân lực được xem là một hướng tiếp cận chiến 8 lược liên kết vấn đề quản lý nhân lực với việc đạt được các mục tiêu kinh doanh.
Còn tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những lý giải khác nhau trên quan điểm khoa học cho khái niệm này. Trong Giáo trình quản trị nhân lực căn bản (2016), Nguyễn Thị Minh Nhàn và Mai Thanh Lan cho rằng: “Quản trị nhân lực là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho NLĐ và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức/doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định”. Ở một góc nhìn khác, trong cuốn Quản trị nhân sự (2012), tác giả Nguyễn Hữu Thân cho rằng: “Quản trị nhân sự là việc hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu tổ chức." Thêm vào đó, theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm, trong cuốn Giáo trình Quản trị nhân lực (2012), Quản trị nhân lực thực chất là “Công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức đối với NLĐ. Nói cách khác, Quản trị nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp cho họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh.” Tóm lại, quản trị nhân lực là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho NLĐ và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức hay doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định.
Khái niệm đãi ngộ nhân lực Trong cuốn Giáo trình Quản trị nhân lực (2012), Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm định nghĩa: “Đãi ngộ nhân lực là các khoản thù lao và những lợi ích dành cho NLĐ. Phúc lợi xã hội là khoản thù lao gián tiếp mà NLĐ nhận được dưới dạng các hỗ trợ cho cuộc sống như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe, các chương trình giải trí, tham quan, nghỉ mát”. Theo Hoàng Văn Hải và Vũ Thùy Dương (2008), “Đãi ngộ nhân lực là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần NLĐ để NLĐ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp”. Các tác giả cũng đã phân tích hai loại hình đãi ngộ chính là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính.
Như vậy, đãi ngộ nhân lực là tất cả những hoạt động, chính sách, chế độ chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Vai trò của đãi ngộ nhân lực Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đãi ngộ nhân lực đóng vai trò rất quan trọng, nó tác động trực tiếp đến lợi ích đạt được của người LĐ và cả DN. Xét trên khía cạnh rộng lớn hơn đãi ngộ nhân lực còn tác động tới nguồn lực LĐ, con người của một quốc gia. Vì vậy, khi đánh giá vai trò của đãi ngộ nhân lực, chúng ta cần xem xét trên ba lĩnh vực là: Đối với hoạt động kinh doanh của DN, đối với việc thỏa mãn nhu cầu người LĐ, đối với việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực cho XH.
* Đối với hoạt động kinh doanh của DN: Đãi ngộ nhân lực là điều kiện đủ để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN. Trong bất kỳ DN nào, người LĐ có trình độ chuyên môn tay nghề cao không có nghĩa là họ sẽ làm việc tốt, gắn bó với công việc, không có nghĩa là hoạt động của DN chắc chắn sẽ tốt, vì những vấn đề này còn phụ thuộc vào việc người LĐ có muốn làm việc hay không? Suy nghĩ và hành động như thế nào trong khi tiến hành công việc?.nghĩa là phụ thuộc vào nhu cầu và hành động động cơ thúc đẩy cá nhân của họ. Để phát huy mọi năng lực và tiềm năng của mỗi cá nhân thì việc đãi ngộ kể cả vật chất và tinh thần là cách giải quyết tốt nhất để khai thác động cá nhân và góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả DN. Đãi ngộ nhân lực góp phần duy trì nguồn nhân lực ổn định của DN vì nó cung cấp điều kiện vật chất và quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng “sức LĐ”.
Con người nói chung và người LĐ nói riêng được hiện hữu bởi hai yếu tố, đó là thể lực (hay dạng vật chất) và trí lực (hay trí tuệ) cũng như tinh thần của họ.