Chương I NHŨNG C ơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TÊN RIÊNG 1. Tèn người và khoa Nhân danh học Trong hệ thống tên riêng của một ngôn ngữ, tên người làm thành một mảng tên gọi khá đặc biệt. Do mỗi người có một tên gọi riêng, nên tên người có số lượng vô cùng lớn và không xác định. So với các loại tên riêng khác, tên người tồn tại dưới nhiều hình thức rất phong phú và đa dạng như: tên tục, tên huý, tên tự, tên hiệu, bút danh, biệt danh, bí danh, hài danh, nghệ danh,.
Về cấu tạo, tên người là một hệ thống không đồng loại. Trừ tên thật (còn gọi là Tên chính) có cấu tạo khá phức tạp, còn cấu trúc của các loại tên người khác đơn giản hơn và thường được sử dụng trong một phạm vi nhất định. Về ý nghĩa, cũng so với các loại tên riêng khác, tên người là một loại kí hiệu ngôn ngữ có nhiều khả năng phản ánh một cách nhạy cảm mọi sự biến động diễn ra trong đời sống xã hội. Người ta có thể tìm thấy trong ý nghĩa của tên người những dấu hiệu của lịch sử, truyền thống, văn hoá, xã hội và nhiều thứ khác đặc trưng mỗi một cộng đồng dân tộc nhất định.
Chính vì thế, tên người đã trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu không chi của ngôn ngữ học, mà còn của nhiều ngành khoa học xã hội khác như sử học, xã hội học, tâm lí học,. Trong ngôn ngữ học tên người được nghiên cứu trong một môn học riêng gọi là Nhân danh học. Nhàn danh học (anthroponymie) nghiên cứu về tên người. Nhiệm vụ chú yếu của môn học này là nhằm phát hiện ra những quy luật cơ bản về 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quá trình hình thành, biến đổi và phát triển của tên người trên cả bình diện cấu trúc- chức năng lẫn bình diện lịch sử- xã h ộ i.
Cùng với Địa danh học, Nhân danh học xuất hiện ở châu Âu vào những năm cuối của thế kỷ XIX và bắt đầu phát triển vào đầu thế kỷ XX. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tên riêng nói chung và tên người nói riêng mới xuất hiện vào khoảng những năm 60-70 của thế kỉ XX. Hiện nay, tên riêng chỉ người trong tiếng Việt ngày càng thu hút sự quan tàm chú ý của giới chuyên môn. Sự khác biệt giữa tên riêng và tên chung Trong hệ thống vốn từ của một ngôn ngữ có sự đối lập giữa hai hệ thống tên gọi hoàn toàn khác nhau- đó là tên riêng và tên chung.
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, tên riêng được định nghĩa như sau: “ Từ, cụm từ hoặc câu dùng để tách biệt đối tượng được gọi tên ra khỏi tập hợp các đối tượng khi cá thể hóa chúng. Đặc điểm của tên riêng là dùng để gọi tên (kí hiệu) người hoặc các sự vật riêng lẻ, không liên quan gì đến đặc trưng của chúng, tức là không có sự tương ứng giữa tính chất của sự vật được gọi tên (kí hiệu) và nghĩa của từ, cụm từ hoặc câu”. [56] Tác giả Nguyên Tài cẩn trong cuốn: ‘T ừ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” năm 1975 đã viết: “Cũng như ở các ngôn ngữ khác, trong danh từ tiếng Việt cũng cần phải tách danh từ riêng thành một tiểu loại đặc biệt. Bất kì đó là nhân danh hay địa danh, tên sách báo hay tên gọi tổ chức, tên gọi thời đại, danh từ riêng bao giờ cũng có đặc điểm là chí dùng để gọi tên của một sự vật duy nhất, cá biệt.
Chính đặc điểm này là đặc điểm đã làm cho danh từ riêng khác hẳn các danh từ còn lại, cả về mặt ý nghĩa, cả về mặt đặc trưng ngữ pháp” [2]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1979, tác giả Nguyễn Văn Thạc cho rằng: “Danh từ riêng là những danh từ về mặt nội dung ý nghĩa chỉ biểu thị một đối tượng, sự vật riêng lẻ, duy nhất không có mối liên hệ nào với đặc trưng của đối tượng sự vật với ý nghĩa của từ. Danh từ riêng chỉ là cái tên dùng để gọi chứ không phải từ dùng để hiểu. Nó chỉ có ý nghĩa biểu vật chứ không có ý nghĩa biểu niệm.
Danh từ riêng có thể xem là bộ phận hạt nhân của tên riêng”. [32] Tác giả Đỗ Hfru Châu, năm 1981 viết: “Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật. Tên riêng không phải hoàn toàn không có nghĩa biểu niệm. Giả định rằng ở một dân tộc nào đó, tên riêng của người khác hẳn với tên riêng đất đai, núi sông, khác hẳn với tên riêng động vật,.
thì chỉ cần nghe tên riêng người nghe sẽ không rơi vào tình trạng mơ hồ chiếu vật. Lúc này phạm trù người, đất đai, sông núi mà tên niêng gợi ra (do sự khác nhau trong cách đặt tên) là nét biểu niệm của tên riêng. Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó. Thí dụ tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người, tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ cá thể núi, sông trong phạm trù vật thể tự nhiên.
Tuy nhiên trong sử dụng, tên riêng có thể được dùng theo lối dịch chuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ. Ví dụ: Dùng tên địa phương để chỉ người (Cụ Tiên Điền, Tiên Điên là tên làng ở đây dùng với nghĩa chiếu vật : Nguyễn Du), dùng tên người để chỉ tác phẩm nghệ thuật (xem triển lãm Tô Ngọc V ân) dùng tên riêng của hãng sản xuất để gọi tên sản phẩm (dùng Hon đa để gọi tên cho bất kỳ loại xe máy nào,.) Quan trọng hơn ià tên riêng được dùng trong chức năng xưng hô. Tuy là phạm trù ngôn ngữ học phổ quát, nhưng tên riêng mang đậm bản sắc dân tộc cả về quy tắc đặt tên cả về quy tắc dùng” [3] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến năm 2004, sự khác nhau căn bản giữ tên riêng và tên chung đã được tác giả Phạm Tất Thắng phân biệt một cách khá chi tiết. Ông viết: “Tên chung (general names) - đó là những từ chung có ý nghĩa chỉ ra một lớp đối tượng cùng loại; còn tên riêng (proper names) chỉ là những kí hiệu định danh cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất và xác định.
NÓI cách khác, tên chung có mối liên hệ với khái niệm, còn tên riêng thì không có môi liên hệ với bất kỳ khái niệm nào cả.) Ở đâu mà sự vật riêng lẻ được con người chú ý đến, thì ở đó có tên riêng. Tên riêng xác nhận sự tồn tại của sự vật, còn tên chung nêu lên đặc tính của sự vật này khác biệt với đặc tính của những sự vật khác cùng loại. Tên riêng thì cá thể hoá, còn tên chung thì khái quát hoá. Nếu tính cá thể của đối tượng được gọi tên trở nên không xác định và có tính khái quát hoá, thì sẽ nảy sinh hiện tượng chuyển tên riêng thành tên chung.
Trong bất kỳ một hệ thống ngôn ngữ nào cũng diễn ra một sự chuyển hoá thường xuyên như vậy giữa tên chung và tên riêng. Chính sự chuyển hoá này đã làm phong phú thêm vốn từ vựng của ngôn ngữ. Thường là các cá thể bao giờ cũng xuất hiện đầu tiên, nhưng dường như các tên riêng lại xuất hiện sau những tên chung. Người ta thường sử dụng các ký hiệu có sẩn là những tên chung để làm tên gọi cho các cá thể.
Do vậy có thể xem tên ricng là những kí hiệu ngôn ngữ đặc biệt được tạo thành lừ một hệ thống ký hiệu đã có để gọi tên cho một đối tượng khác.) Chức năng cơ bản của tên chung là gọi tên để thông báo, để biểu niệm. Còn chức năng của tên riêng là gọi tên để phân xuất và phân biệt với các đối tượng cùng loại. Cũng như tên chung, tên riêng cũng có nghĩa, nhưng tên riêng có nghĩa đồng thời có giá trị chỉ khi nào nó xác lập được mối liên hệ trực tiếp 1I LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nó với đối tượng, nếu không tên gọi đó chỉ giống như những cái "nhãn" được dán vào đối tượng hoặc giống như các từ tượng thanh mà thôi. Về nguyên tắc, mọi đối tượng đều có thể có cả tên chung lẫn tên riêng.
Tuy nhiên những đối tượng có tên riêng thường phải có mối liên hệ đặc biệt đối với con người. Nói cách khác, các đối tượng có tên riêng bị quy định bởi các giá trị xã hội của chúng đối với con người. [43] Như vậy sự khác nhau giữa tên rêng và tên chung khòng chỉ về mặt cấu tạo, mà còn cả về chức năng, ngữ nghĩa và những đặc trưng mang tính xã hội khác. Ý nghĩa của tên riêng.
Trong lịch sử Danh xưng học, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau về ý nghĩa của tên riêng. Tựu trung lại, có hai trường phái đối lập nhau: một trường phái cho rằng tên riêng có nghĩa ; trường phái khác lại quan niệm tên riêng không có nghĩa. Chẳng hạn, Theo J. Mill, tên riêng cũng giống như vệt phấn đánh dấu ở một cái nhà : nó không có nghĩa mà chỉ có mục đích là chỉ ra biểu vật [36] Theo E.
Aznaurova, tên riêng khiếm nghĩa, nó không mang tính thông tin xã hội hoá. Bởi vậy ở nó nổi lên rất rõ nội dung hàm chỉ, tức là nội dung ngữ nghĩa tu từ bổ sung được nảy sinh trên cơ sở các mối liên tưởng thường trực trong tâm thức của cộng đồng ngôn ngữ.[ 36] Theo tác giả Lý Tống Địch của Trung Quốc, thì tên người có ý nghĩa văn học. Theo ông, đó là ý muốn chủ quan của người đặt tên được chuyển vào trong mỗi hình thức tên gọi. Chẳng hạn muốn con mình học hành uyên bác thì có thể gọi là: Ngạn Bác, Chung Văn, Chung Thư, Văn Uyên, Tam Tư, Đoan Học, Vãn Lâm.
[8 I 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong Việt ngữ học, cũng có hai quan niệm khác nhau về nghĩa của tên riêng. Chẳng hạn, theo tác giá Hoàng Phê: Tên riêng là những kí hiệu thuần túy không có nghĩa. Có những tên riêng vốn có nghĩa thì cái nghĩa đó thường cũng không ai nghĩ đến, nó trở thành thật sự “vô nghĩa”.[26] Ngược lại với quan niệm này, nhiều ý kiến khi đề cập đến tên riêng đéu cho rằng tên riêng có nghĩa, mặc dù quan niệm về nghĩa của tên riêng ở mỗi lại không hoàn toàn như nhau.