CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái quát về ca dao người Việt 1. Khái niệm về ca dao người Việt Có thể kể đến một số định nghĩa về ca dao như: Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi chủ biên : “Ca dao còn gọi là phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau.
Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca” [30, tr. Trong cuốn “Lịch sử văn học Việt Nam”, tập 1 (NXB GD 1978) của nhóm tác giả Bùi Văn Nguyên, Lê Trí Viễn, Phan Côn và cộng sự : “Ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [26 ,tr.
3] Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” cho rằng ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân. Ngoài ra còn có định nghĩa : “Ca dao (歌謠) là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc. Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung ca dao là những bài thơ, câu thơ được nâng thành những bài hát, câu hát có nhịp điệu, dễ nhớ dễ thuộc, phản ánh cuộc sống của con người dựa trên nhiều khía cạnh như 8 sinh hoạt, lao động, tình cảm và dựa trên những khía cạnh ấy mà phân thành những loại ca dao khác nhau, phục vụ cho từng mục đích.
Thật không quá khi nói ca dao chính là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất của người Việt bởi những phương diện mà nó thể hiện là tổng thể nhân sinh quan của cộng đồng, văn hóa Việt. Để khẳng định được điều đó, ta xét về quá trình lịch sử ra đời của ca dao Việt Nam. Ca dao đã xuất hiện từ rất lâu đời trong đời sống của người Việt dưới hình thức lưu hành khẩu truyền, không rõ tác giả. “Ca” ở đây có thể hiểu là giọng (lời) được ngân dài ra, còn “dao” có nghĩa là hát trơn không cần nhạc đệm, vì được lưu truyền trong đời sống dân gian nên thể loại văn chương này mang đậm màu sắc văn hóa quê hương, là câu ca bình dân, ân tình đầy sâu lắng của con người Việt Nam sau lũy tre làng, cây đa, bến nước, sân đình.
Mặc dù, có mặt từ rất lâu nhưng mãi đến đầu nhà Nguyễn, một số nhà Nho đã tập hợp những câu ca được lưu hành trong dân gian thành sách. Phải kể đến cuốn “Nam phong nữ ngạn thi” của Trần Danh Án bao gồm ca dao nửa chữ Nôm, nửa chữ Hán. Theo nghiên cứu của Nguyễn Mộng Khôi trong bài viết “Đôi điều về ca dao tục ngữ” cho rằng: Mãi đến cuối thế kỉ XIX, khi nước ta bị đô hộ mới bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa người Pháp, người phương Tây, mà nghiên cứu, phê bình loại văn chương bình dân này theo lối Tây phương. Ông Edmond Nordeman sưu tập, trích lục văn Nôm xưa mà làm sách “Quảng tập viêm văn” (Chrestomatie annamite), xuất bản 1898 tại Hà Nội.Cordier người Pháp soạn quyển “Việt Nam thi văn hợp tuyển” (Litterature annamite, extraits des poetes et des prosateurs annamites) đầu tiên, tiếp theo là những quyển như “Góp nhặt những câu ca dao” ( Recueil de chansons populaires) của Paulus Cuar.
Ông Julien với quyển “Lớp tiếng Việt” (Cours de langue annamite). Ông Đặng Lễ Nghi cho xuất bản quyển “Câu hát huê tình” năm 9 1917. Đến năm 1928, ông Nguyễn Văn Ngọc ấn hành quyển “Tục ngữ phong dao”. Tiếp theo là những sưu tập của giáo sư Dương Quảng Hàm, Thanh Lãng… Từ đó đến nay đã có hàng trăm tác giả thâu góp và giải thích tục ngữ ca dao…’’ Từ đó, ta có thể thấy, ca dao giống như tấm gương phản chiếu cho mỗi thời kì, giai đoạn lịch sử của nước nhà.
Đó không chỉ là tiếng hát ân tình, xoa dịu, cổ vũ con người mà đó còn như cuốn nhật kí mà mỗi câu ca dao chính là từng trang văn hóa cho mỗi thời kì của dân tộc. Chính vì thế, muốn đi vào tìm hiểu giá trị cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt ta chỉ cần đào sâu vào ca dao. Thật vậy, trong thời kì phong kiến xưa, thời kì mang nhiều định kiến khắc nghiệt về thân phận người phụ nữ hay số phận đầy oan trái của người dân lao động phải sống trong cảnh bòn rút sức lực của giai cấp địa chủ phong kiến : Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu. Thương thay hạc lánh đường mây Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.
Thương thay thân phận con tằm Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ Thương thay lũ kiến li ti Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Ca dao đã làm đúng nhiệm vụ của mình, cất lên tiếng hát trữ tình than thân, thương cảm cho từng thân phận, từng kiếp người trong xã hội bấy giờ. Ca dao trữ tình như liều thuốc xoa dịu từng cơn đơn quặn thắt của số phận từng giai cấp người. 10 Từ bao đời nay, người nông dân Việt Nam phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, ca dao từ đó như tiếng hát cổ vũ tinh thần người dân lao động hăng say, miệt mài với công việc : Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia, Ta đây trâu đấy ai mà quản công, Bao giờ cây lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. Tre già anh để pha nan, Lớn đan nong né, bé đan giần sàng. Gốc thì anh để kê bàn, Ngọn ngành anh để cắm giàn trầu, dưa. Những người đi biển làm nghề, Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi.
Sóng lừng, bụng biển ầm ì, Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi. Như ta đã biết, Nho giáo chính là hệ tư tưởng ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng ở Việt Nam, nó định hình về lối sống, sinh hoạt, đạo đức hay cách đối nhân xử thế của người Việt. Tuy hệ tư tưởng Nho giáo đã sụp đổ từ sau Cách mạng tháng Tám nhưng nó vẫn tồn tại trong tiềm thức của người Việt ở cách đối xử người với người, hay trong các lễ nghi, phong tục, tập quán. Nét văn hóa này đã được mảnh đất ca dao màu mỡ tận dụng một cách triệt để, trở thành loại ca dao nghi lễ, phong tục phản ánh bề dày lịch sử, văn hóa của người Việt: 11 Đi đâu mặc kệ đi đâu Đến ngày giỗ tết phải mau mà về.
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Mồng một chơi cửa, chơi nhà Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình. Mông bốn chơi chợ Quả Linh Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi. Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ Viềng năm có một phiên Cái nón em đội cũng tiền anh mua.
Ca dao còn phản ánh nhiều khía cạnh khác trong cuộc sống, dù ở những phương diện khác nhau ca dao đều bộc lộ tình cảm thắm thiết, mãnh liệt của con người bình dân, bởi đó chính là tiếng nói đại diện cho cộng đồng người Việt, mang âm hưởng của quang cảnh làng mạc Việt Nam. Nó không phải là những câu từ trau chuốt, đầy hoa mĩ mà được hun đúc từ chính nét chất phác, nồng hậu, thuần Việt của bao khối óc người bình dân truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đặc điểm ca dao người Việt Ca dao là những tác phẩm trữ tình, được sáng tác tạo thành tác phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ. Mỗi bài ca dao đều thể hiện tình cảm, cảm xúc của con người trong cuộc sống.
Tìm hiểu đặc điểm ca dao người Việt, ta chú ý đến đặc điểm về phần nội dung và hình thức.1 Về nội dung: Nội dung mà ca dao thể hiện trải dài ở nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, làm cho hiện thực của cuộc sống hay đời sống tình cảm, tư tưởng, tâm trạng con người được hiện lên một cách đa dạng và phong phú. Ca dao chính là tấm gương phản ánh cuộc sống muôn hình vạn trạng của con người và hiện thực đời sống được phản ánh trong ca dao là những điều gần gũi, chân thực. Ta có thể chia nội dung mà ca dao thể hiện thành 2 phương diện lớn: nội dung trữ tình và nội dung thế sự. Nội dung trữ tình Trữ tình là phương thức miêu tả của văn học, thiên về bộc lộ, diễn tả cảm xúc.
“Trữ” là thổ lộ, “tình” là tình cảm, cảm xúc. Ca dao được xem là tiếng hát trữ tình diễn đạt tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam. Nội dung trữ tình ấy có thể là tình yêu đôi lứa với những cuộc gặp gỡ trong bức tranh lao động đầy hăng say, vì thế ca dao về tình yêu nam nữ thường gắn liền với cuộc sống của nhân dân lao động. Bên cạnh đó còn có tình yêu quê hương, đất nước, yêu vẻ đẹp của từng vùng miền, từ đó thể hiện niềm tự hào thông qua những áng ca dao ca ngợi về thiên nhiên, phong cảnh và sản vật.
Tình cảm gia đình cũng là một trong những khía cạnh mà ca dao khai thác, phản ánh những mối quan hệ của các thành viên trong gia đình. Và nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong nội dung này đó chính là hình ảnh của người phụ nữ lao động, là hình ảnh của người bà, người mẹ, của người vợ thân thương. Đặc biệt, đề tài về thân phận mỗi lớp người trong xã hội phong kiến chính là mảnh đất đầy màu mỡ để ca dao phát huy hết khả năng trữ tình của mình. Với đề tài này, ca dao đã phản ánh những tâm trạng đầy đau khổ, phẫn uất cho thân phận đầy hẩm hiu của người phụ nữ, hay sự dồn nén, tiếng khóc đau thương của tầng lớp nhân dân lao động bị đè nặng 13 dưới ách thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến, ca dao cất lên tiếng khóc đầy xót thương, đồng cảm, xoa dịu nỗi đau cho từng lớp người ấy.