CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vấn đề hội thoại và lời thoại 1. Khái niệm hội thoại Hội thoại là phương tiện phổ biến và cơ bản nhất để trao đổi, dẫn dắt công việc của con người. Đồng thời, giao tiếp hội thoại cũng là hoạt động cơ bản của hoạt động ngôn ngữ, một trong những vấn đề chính được ngữ dụng học quan tâm, là một trong những bộ phận chủ yếu của Ngữ dụng học vĩ mô.
Nhiều nhà Việt ngữ học đã bàn tới vấn đề hội thoại. Qua các cách trình bày, định nghĩa về vấn đề hội thoại, các nhà Việt ngữ học đều nêu lên những đặc điểm cơ bản nhất của hội thoại. Những đặc điểm này cũng được tác giả Nguyễn Đức Dân [8;80], Nguyễn Thiện Giáp [13; 219-221)] nêu ra và trình bày với hai đặc điểm là đặc điểm bên trong (nội tại) và đặc điểm bên ngoài. Theo các tác giả, đặc điểm nội tại của hội thoại bao gồm: 1.
Sự tương tác qua lại (nguyên tắc luân phiên lượt lời). Sự liên kết (nguyên tắc liên kết hội thoại). Tính mục đích. Nguyên lý hội thoại (nguyên lý cộng tác và nguyên lý tế nhị).
Những đặc điểm bên ngoài của hội thoại gồm: 1. Về số lượng người tham dự. Về quan hệ giữa những người tham dự. Về chu cảnh của những cuộc thoại (thời gian và không gian) Tác giả cũng đưa ra những lưu ý về không gian hội thoại: sự có mặt của người đối thoại có tầm quan trọng đáng kể trong hội thoại.
Theo quan điểm ngữ dụng, sự có mặt hiện thực hoặc tưởng tượng cuả người đối thoại là yếu tố cần thiết cho việc dùng ngôn ngữ được bình thường trong quá trình hội thoại. Có những câu hỏi, câu chào, câu gọi, câu cầu khiến, có những đại từ như này, kia, ấy, nọ… mà sự quy chiếu của chúng liên quan đến người nói, người nghe, ngữ cảnh, sự định hướng không gian. 8 Gần đây, Nguyễn Thiện Giáp [16; 219-221] cũng giải thích khá kĩ về khái niệm này cũng như đặc điểm của hội thoại. Dưới đây là một số ý kiến cụ thể của các nhà nghiên cứu về vấn đề này.
Theo Nguyễn Như Ý thì: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, ở dạng nói, giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [35;122]. Còn theo Đỗ Hữu Châu, “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [4;20]. Và theo Nguyễn Đức Dân, “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại. Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi.
Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe. Đó là hội thoại. Hoạt động giao tiếp phổ biến và căn bản nhất của con người là hội thoại…” [8;76]. Hay Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng: "Mỗi cuộc thoại đều diễn ra vào lúc nào đó, ở đâu đó, trong hoàn cảnh nào đó.
Nhân tố ngữ cảnh có vai trò to lớn trong việc tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại". Như vậy, từ những ý kiến trên ta nhận thấy trong hội thoại bao giờ cũng bao gồm các yếu tố: người nói, người nghe, nội dung trao đổi và ngữ cảnh. Lời thoại nhân vật Lời thoại nhân vật có thể là độc thoại, có thể là đối thoại. Theo tác giả Lê Bá Hán, “Đối thoại là cuộc giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như một phản ứng đáp lại lời nói của đối phương giao tiếp.
Lời đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phương và không công khai, không bị thúc trong không khí bình đẳng của người đối thoại. Lời đối thoại thường kèm theo các động tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn của nhiều người”[17;159]. Cũng theo tác giả Lê Bá Hán, “Độc thoại là hình thức thoại không đòi hỏi sự đáp lại, độc lập với phản ứng của người tiếp nhận và được thể hiện thoải mái cả trong hình thức nói lẫn viết” [17;159]. 9 Tính độc thoại có biểu hiện bên ngoài là một dòng lời nói liên tục, không hề bị ngắt quãng bởi những lời nói của người khác.
Độc thoại được phân làm hai loại: độc thoại cô lập và độc thoại có hướng. Trong tác phẩm văn học, lời thoại có vai trò rất quan trọng. Thông qua ngôn ngữ nhân vật trong những cuộc giao tiếp, tính cách nhân vật được bộc lộ rõ nét. Không chỉ có thế, thông qua lời nói của nhân vật, người đọc còn có thể cảm nhận được tính cách, trình độ văn hóa và kinh nghiệm sống của nhân vật.
Ngôn ngữ của nhân vật khi giao tiếp còn thể hiện đời sống nội tâm phong phú của nhân vật, những diễn biến tâm lý, tình cảm theo suốt cuộc đời nhân vật. Thông qua nhân vật và những cuộc thoại mà nhân vật tham gia, các tác giả thường thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Có thể nói ngôn ngữ nhân vật chính là bức thông điệp mà nhà văn nhắn gửi đối với độc giả. Ngôn ngữ nhân vật góp phần quan trọng thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Khái niệm xưng hô và từ xưng hô trong hội thoại 1. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô 1. Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được thực hiện trong giao tiếp ở tất cả các cộng đồng người. Theo Từ điển tiếng Việt [Hoàng Phê (2003)], thì xưng hô là ''tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau''.
Xưng hô là một bộ phận của lời nói. Nó được biểu thị qua giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội. Xưng là một hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào cuộc thoại, để người nghe biết rằng mình đang nói và chịu trách nhiệm về lời nói của mình. Đây là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi thứ nhất).
Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong cuộc thoại. Hô được hiểu là tập hợp những biểu thức mà người nói dùng để chỉ người đối thoại với mình. Đặc điểm của xưng hô là phải có sự hiện diện của người nói và người nghe. Có thể nói, trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào không thể thiếu được từ 10 xưng và từ hô.
Ngay cả khi trong trường hợp vắng mặt (zezo), cũng có thể coi là một sự có mặt không hiện hữu mang tới một ý nghĩa nhất định. Tuy nhiên, do ngôn ngữ của một dân tộc phản ánh và thể hiện đặc điểm tư duy, văn học, phong tục, truyền thống riêng của dân tộc đó, nên việc đánh giá về sự xuất hiện hay không xuất hiện từ xưng hô cũng như cách xưng và hô là có khác nhau. Đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao khi giao tiếp bằng ngoại ngữ, người ta thường ít nhiều mang thói quen lối tư duy bản ngữ vào việc sử dụng TXH trong câu, như dùng TXH vào trong những câu đáng lẽ không cần dùng TXH và không dùng TXH trong những câu đúng ra là phải dùng TXH. Ngay trong một dân tộc, giao tiếp bằng ngôn ngữ của một dân tộc đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử và ở các cộng đồng nói năng khác nhau do nhiều lý do khác nhau mà cũng có cách xưng hô khác nhau và nhìn nhận khác nhau về cách xưng hô.
Cần phân biệt xưng hô và xưng gọi. Nếu như xưng gọi là một phát ngôn của người nói (thường chỉ là một lần trong hội thoại), hướng vào người nghe để người nghe biết được người hô gọi muốn thực hiện cuộc hội thoại với anh ta thì xưng hô là một hoạt động ngôn từ diễn ra thường xuyên liên tục trong cuộc thoại, nó được diễn tiến qua ngôn ngữ của các nhân vật tham gia hội thoại. Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ đều có hệ thống TXH và có cách dùng chúng, để một mặt thực hiện chức năng xưng gọi, mặt khác thể hiện được những đặc điểm văn hoá giao tiếp của dân tộc đó. TXH, từ trước tới nay đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm ở hai bình diện cấu trúc và chức năng.
Với sự phát triển của ngôn ngữ học theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, trước hết là hành chức trong giao tiếp, vấn đề xưng hô được xem xét trong phạm vi rộng hơn. Nó không còn là vấn đề thuần tuý trong ngôn ngữ học cấu trúc, mà còn là vấn đề của ngữ dụng học, của xã hội ngôn ngữ học, của vấn đề ngôn ngữ học xuyên văn hoá. Hiện nay, các lý thuyết hội thoại, ngữ dụng học, văn hoá học,. đã rọi nhiều ánh sáng, từ đó định ra nhiều hướng tìm hiểu mới cho việc nghiên cứu TXH.
Rõ ràng, việc 11 nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở mặt cấu trúc mà còn mở hướng nghiên cứu ở các mặt chức năng, ngữ dụng học. Xưng hô trong tiếng Việt chịu áp lực mạnh mẽ của sự chuẩn mực xã hội. Chuẩn mực xã hội quy định việc lựa chọn TXH. Đối với tiếng Việt, vận dụng khái niệm quyền thế và liên kết để xem xét cách xưng gọi trong giao tiếp khác với một số ngôn ngữ Ấn Âu.
Các từ dùng để xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt bao gồm không chỉ các đại từ nhân xưng (ĐTNX) gốc mà còn có rất nhiều từ thuộc từ loại khác chuyển sang, trong đó đáng chú ý là nhóm từ thân tộc (TTT). Cùng với một số từ xưng gọi khác, các TTT có đặc điểm đáng lưu ý là, chúng vừa dùng để ''xưng'' vừa dùng để ''hô'' (gọi khách thể giao tiếp) cả trong giao tiếp gia đình lẫn trong giao tiếp xã hội. Hầu hết các TXH tiếng Việt được phân bố cách sử dụng theo thang độ quyền thế, kết liên, lịch sự. ở cả trong ''xưng'' lẫn ''gọi''.
Vì thế, thông qua cách sử dụng từ xưng hô có thể thấy được thái độ, quan điểm của các thành viên tham gia giao tiếp. Trong giao tiếp có rất nhiều yếu tố tác động đến sự lựa chọn từ ngữ xưng hô. Và, ngay trong mối quan hệ giữa ''xưng'' và ''hô'' cũng hình thành nên hai mối quan hệ: mối quan hệ tương hỗ và mối quan hệ phi tương hỗ. Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ và là một hành vi ở lời, bởi hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.