Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục tiểu học, văn học thiếu nhi giữ vai trò quan trọng trong việc bồi đắp tâm hồn, mở rộng tri thức và định hình nhân cách học sinh. Bên cạnh các văn bản được giảng dạy trực tiếp trong sách giáo khoa Tiếng Việt, bộ sách Truyện đọc từ lớp 1 đến lớp 5 là nguồn ngữ liệu bổ trợ phong phú, giúp các em nâng cao năng lực đọc hiểu, rèn luyện kỹ năng sống và tiếp cận các tình huống thực tiễn. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học, bộ truyện này chỉ mang tính chất bổ trợ cho phân môn Kể chuyện nên chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ giáo viên và phụ huynh. Thời lượng giảng dạy chính khóa và các buổi học thứ hai không có nhiều thời gian dành riêng cho bộ sách, khiến học sinh chủ yếu phải tự đọc và gặp khó khăn nhất định trong quá trình cảm thụ văn học do giới hạn tâm lý lứa tuổi. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Hà Việt Hoàng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Đặc điểm truyện đọc Tiểu học" tại Khoa Tiểu học – Mầm non, Trường Đại học Hoa Lư (Ninh Bình, năm 2021) dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Phương Thảo.

Khóa luận xác định rõ ràng mục đích và hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Khảo sát và chỉ ra các đặc sắc về phương diện nội dung và nghệ thuật của bộ sách truyện đọc tiểu học, qua đó khẳng định giá trị cũng như sự cần thiết của nguồn tài liệu này trong việc bồi dưỡng kiến thức văn học và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 2 nhiệm vụ):
    • Khảo sát, thống kê và phân loại các tác phẩm trong bộ truyện đọc theo từng mảng nội dung và thể loại.
    • Phân tích có hệ thống các đặc điểm nội dung tư tưởng và đặc điểm hình thức nghệ thuật của các tác phẩm được tuyển chọn.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật của bộ sách truyện đọc tiểu học. Phạm vi khảo sát tập trung vào các tác phẩm văn học viết trong bộ sách Truyện đọc từ lớp 1 đến lớp 5 do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2019, bao gồm:

  • Truyện đọc lớp 1, 2, 3: Do Trần Mạnh Hưởng và Lê Hữu Tỉnh tuyển chọn, giới thiệu.
  • Truyện đọc lớp 4: Do PGS. Hoàng Hòa Bình tuyển chọn, biên soạn.
  • Truyện đọc lớp 5: Do PGS. Hoàng Hòa Bình và TS. Trần Thị Hiền Lương tuyển chọn, biên soạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm qua các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến mảng truyện thiếu nhi và văn học trong trường tiểu học. Các công trình tiêu biểu gồm: luận văn thạc sĩ của Trần Thị Toan về tác phẩm của Hồ Chí Minh trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học; luận văn của Ngô Đình Vân Nhi nghiên cứu đặc điểm truyện thiếu nhi của Phạm Hổ; luận văn của Nguyễn Thị Thoa về truyện đồng thoại của Tô Hoài; luận văn của Nguyễn Thanh Hà về thế giới nghệ thuật truyện đồng thoại của Trần Hoài Dương qua tập Cô bé mảnh khảnh; cùng bài viết "Truyện đọc cho học sinh tiểu học - Thế giới bị lãng quên" của tác giả Trần Quang Đại trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An (2012). Tác giả nhận định các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào từng tác giả cụ thể hoặc một mảng tác phẩm riêng lẻ, chưa có công trình khảo sát toàn diện và hệ thống về đặc điểm của cả bộ sách Truyện đọc từ lớp 1 đến lớp 5.

Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, khóa luận phối hợp ba phương pháp nghiên cứu chính:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Khảo sát, định lượng và phân chia số lượng tác phẩm theo thể loại, xuất xứ (văn học dân gian, văn học viết; văn học Việt Nam, văn học nước ngoài) và theo từng chủ điểm nội dung.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Mổ xẻ các chi tiết nghệ thuật, tính cách nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ của từng văn bản, từ đó tổng hợp thành các đặc trưng chung về nội dung và nghệ thuật của bộ truyện.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các tác phẩm cùng chủ đề, thể loại và giữa các khối lớp (từ lớp 1 đến lớp 5) để làm rõ sự phân hóa về dung lượng, kết cấu và mức độ nhận thức phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm của đề tài là toàn bộ 231 tác phẩm truyện đọc nằm trong bộ sách 5 tập. Cơ cấu phân bố văn bản theo từng khối lớp và xuất xứ địa lý được tổng hợp như sau:

Khối lớp Số lượng câu chuyện Người tuyển chọn / biên soạn Nhà xuất bản & Năm phát hành
Lớp 1 24 Trần Mạnh Hưởng – Lê Hữu Tỉnh NXB Giáo dục Việt Nam (2019)
Lớp 2 30 Trần Mạnh Hưởng – Lê Hữu Tỉnh NXB Giáo dục Việt Nam (2019)
Lớp 3 30 Trần Mạnh Hưởng – Lê Hữu Tỉnh NXB Giáo dục Việt Nam (2019)
Lớp 4 77 PGS. Hoàng Hòa Bình NXB Giáo dục Việt Nam (2019)
Lớp 5 70 PGS. Hoàng Hòa Bình – TS. Trần Thị Hiền Lương NXB Giáo dục Việt Nam (2019)
Tổng số 231 tác phẩm (Trong đó: 165 tác phẩm Việt Nam và 66 tác phẩm nước ngoài)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đặc điểm nội dung của bộ truyện đọc Tiểu học

Chương 1 đi sâu phân loại và phân tích hệ thống giá trị tư tưởng của 231 truyện đọc, chỉ ra cách phân bổ nội dung theo 5 mạch cảm xúc và bài học đạo đức nền tảng:

  • Tình yêu quê hương đất nước thiêng liêng sâu sắc: Chiếm gần 15% tổng số tác phẩm (hơn 30 truyện), xuất hiện rải rác nhưng tập trung mật độ cao nhất ở tập truyện lớp 4 và lớp 5 thông qua các chủ điểm như Việt Nam – Tổ quốc em, Con người với thiên nhiên, Người công dân, Anh hùng dân tộc. Dụng ý biên soạn là hướng tình cảm lớn này đến lứa tuổi đã có sự trưởng thành nhất định về nhận thức. Tác giả phân tích các tác phẩm ca ngợi tinh thần xả thân vì độc lập qua hình tượng lịch sử và cách mạng: Bà Trưng, Bà Triệu, Yết Kiêu (Ông Yết Kiêu lặn đục thuyền giặc), Trần Quốc Toản (Trần Quốc Toản giao chiến với Ô Mã Nhi), Ngô Quyền (Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán cắm cọc sông Bạch Đằng năm 938), Thái hậu Dương Vân Nga vì đại cuộc nhường ngôi (Xã tắc quý hơn ngôi báu), anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang trước pháp trường (Hãy nhớ lấy lời tôi!), nữ anh hùng Võ Thị Sáu kiên trung, và tấm gương thiếu niên Lai hy sinh thân mình bịt lỗ thông hơi tiêu diệt xe tăng địch (Anh hùng nhỏ tuổi diệt xe tăng). Bên cạnh tinh thần chiến đấu, lòng yêu nước còn thể hiện qua bản lĩnh ngoại giao và trí tuệ dân tộc của sứ thần Nguyễn Duy đối đáp với vua quan nhà Minh, vua Lê Hoàn biểu dương sức mạnh răn đe sứ Tống (Vua Lê Đại Hành giữ nước), cống hiến y học thế giới của Giáo sư Bác sĩ Tôn Thất Tùng với phương pháp cắt gan khô năm 1962 (Đôi bàn tay vàng), tinh thần cải cách xã hội loại bỏ hủ tục của Tây Môn Báo (Tây Môn Báo bài trừ mê tín), sự gần dân của vua Lý Thái Tông qua lễ tịch điền cày ruộng năm 1032 và 1042, tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ, cùng sự hy sinh thầm lặng 5 năm mở đường lên núi của ông cố Đương (Sự tích Truông Ghép).
  • Tình cảm gia đình ấm áp, yêu thương: Gồm 27 tác phẩm thuộc cả văn học trong nước và nước ngoài, phân bố ở các chủ điểm Thương người như thể thương thân, Măng mọc thẳng, Những chủ nhân tương lai. Các truyện khai thác mối quan hệ đa chiều:
    • Tình cảm ông bà - con cháu: Sự nhường nhịn miếng ăn giữa ba bà cháu nghèo trong Suất cơm phần bà; sự chắt chiu 10 đô la mỗi tháng suốt 52 tháng từ tiền bán trứng gà của người bà để mua đàn cho cháu gái (Chiếc đàn piano màu gụ đỏ); bài học thấu hiểu sự lao động nhọc nhằn 40 năm của người ông làm nghề khuân vác bến sông (Bàn chân ông nội); sự cảm thông của bé Việt khi biết ông nội là thương binh từng bị thương ở đầu (Câu chuyện của ông nội).
    • Tình phụ mẫu và bài học dưỡng dục: Sự kiên trì đào bới 24 giờ cứu con trong đống đổ nát sau động đất 8,2 độ Richter (Cha sẽ luôn ở bên con); sự hy sinh kiệt sức của chim mẹ cõng chim non thoát cháy rừng nhằm thức tỉnh tính tự lập (Chim non không ngoan); cá chuối mẹ chịu đau cho kiến cắn để kiếm mồi cho bầy con (Cá Chuối con); cách ứng xử bao dung, bình tĩnh không dùng đòn roi của cha mẹ để con tự nhận lỗi (Đôi guốc bỏ quên, Những vết đinh); trận đòn nghiêm khắc răn dạy bài học trung thực sau khi con nói dối lừa tiền hàng xóm (Bài học nhớ đời của Gam-da-tốp).
    • Tình cảm của con cái và sự gắn kết anh em: Cậu bé Giu-li-ô âm thầm thức đêm viết thuê đỡ đần bố dù bị mắng oan vì buồn ngủ (Cậu bé viết thuê); bé Hạnh Ly nhờ cô giáo sửa giấy mời họp phụ huynh để hàn gắn bố mẹ (Ngày vui của bé); ông Hiếu nhường bánh đúc cho mẹ già và con thơ (Bánh đúc lạc); các con thuyền trưởng Grant vượt biển tìm cha (Tiếng kêu trong đêm); người anh nghèo mơ ước mua xe hơi cho người em tàn tật (Anh trai); cậu bé Dũng nhịn ăn sáng mua dây thun tặng sinh nhật em gái Ly (Dây thun xanh, dây thun đỏ); chị Hương nhường phần kẹo nhiều hơn cho em (Phép tính chia).
  • Tình bạn chân thành, gắn bó: Hiện diện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5, tiêu biểu ở các chủ điểm Bạn bè, Măng non. Tình bạn hình thành từ sự hồn nhiên qua những sinh hoạt đời thường như chuyến nghỉ hè tắm biển bắt còng của Thắng và Tèo (Trên bờ biển), hay Cu Tỏn dạy Bách bơi và chèo thuyền vùng sông nước (Cu Tỏn). Tình cảm ấy phát triển thành sự sẻ chia, nâng đỡ qua hành động cả lớp mang hoa đến chúc mừng sinh nhật khi biết hoàn cảnh mẹ Tâm nằm viện (Quà sinh nhật), học sinh bàn đầu đồng loạt giơ tay nhường chỗ cho bạn khuyết tật mới đến (Người bạn mới). Mảng truyện đồng thoại mượn hình tượng tự nhiên để giáo dục tình bạn: chị Mây Trắng làm mưa cứu nước Hồ Gương (Hồ Gương), Vịt lặn lội kiếm mồi qua sông nuôi bạn Gà (Gà và Vịt), Đại Bàng Núi dạy Ngựa Trắng phát huy cú "song phi" để tự vệ và trưởng thành (Đôi cánh của Ngựa Trắng), Dế nhỏ xin Thượng Đế chữa sáng mắt cho ngựa mù (Dế nhỏ và ngựa mù), và hành động cả lớp cạo trọc đầu để tiếp thêm nghị lực cho Gia-sếch đang điều trị ung thư (Những cậu bé đầu trọc).
  • Tình người đẹp đẽ và lòng trắc ẩn: Thể hiện thước đo nhân cách qua sự hy sinh và lòng nhân ái. Tiêu biểu là kiệt tác chiếc lá thường xuân của họa sĩ Bơ-men vẽ trong đêm mưa tuyết để thắp lên hy vọng sống cho Giôn-xi (Chiếc lá cuối cùng); tâm trạng căng thẳng đầy trách nhiệm của nhà khoa học Lu-i Pa-xtơ khi điều chế vắc-xin cứu bé Mây-xte bị chó dại cắn (Lu-I Pa-xtơ và em bé); sự ân cần của ông già cho thuê sách nghèo và nỗi day dứt của cậu bé nghèo (Cậu bé và ông già cho thuê sách); cậu bé Tí dũng cảm lao vào đám cháy cứu em nhỏ dù mất toàn bộ tiền tiết kiệm một năm rửa bát thuê để mua xe đạp đua 10 tốc độ (Chiến dịch SS10). Lòng trắc ẩn còn mở rộng sang thế giới loài vật: chú bé tí hon Nin Hơ-gớc-xơn trả sóc con về cho sóc mẹ (Nin Hơ-gớc-xơn tí hon và lũ sóc); hai anh em Vinh gỡ bẫy thả cò con (Bẫy cò); bé Nam dũng cảm đối mặt kẻ xấu để thả rùa con về hồ Hoàn Kiếm (Bé Nam và con rùa Hồ Gươm).
  • Tình cảm thầy trò cao đẹp: Tuy số lượng tác phẩm không nhiều (nằm trong chủ điểm Tới trường, Thương người như thể thương thân) nhưng mang thông điệp giáo dục sâu sắc. Tác giả phân tích cách hành xử độ lượng của thầy giáo khi học sinh làm vỡ chậu hoa lưỡi long (Chậu hoa bị vỡ); bài văn tả chân thực mái tóc hoe vàng và làn da sạm nắng của bạn Chi (Bài văn tả cô giáo); sự kính trọng của học trò dành cho người thầy dạy vẽ hiền hậu (Thầy giáo dạy vẽ); sự bao dung và thấu hiểu của cô giáo giúp cậu học trò cá biệt Teddy vượt qua khủng hoảng tâm lý sau ngày mẹ mất để vươn lên thành đạt (Cô giáo của Tet-đi); và bài học cảm hóa học sinh ngay trong buổi đầu nhận lớp (Thầy giáo mới).

Chương 2: Đặc điểm nghệ thuật của bộ truyện đọc Tiểu học

Chương 2 phân tích các phương thức biểu đạt nghệ thuật mà các tác giả và nhóm biên soạn sử dụng để truyền tải nội dung đến học sinh tiểu học:

  • Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ:
    • Ngôn ngữ hiện thực đời thường và khẩu ngữ: Tác phẩm đưa lời ăn tiếng nói tự nhiên vào đối thoại nhân vật để tạo sự gần gũi, như tiếng than của người mẹ "Rõ khổ" (Chiếc đó cá), câu nói bộc trực của trẻ nhỏ "Sửa xe cái khỉ mốc! tao định đi đánh nhau với thằng Nghi!" (Điều không tính trước), hay lời đe dọa "Khôn hồn thì đưa đây" (Bé Nam và con rùa Hồ Gươm). Đôi chỗ xuất hiện sắc thái khẩu ngữ dân dã, suồng sã có kiểm soát như "bảy mạng ruồi chết dí", "nhổ cây phang nhau" (Một đòn chết bảy), hay hành động "nhét đầy cái túi to tướng... ì ạch leo lên mình chim" (Cây khế).
    • Vận dụng thành ngữ, tục ngữ: Tích hợp các câu nói ngắn gọn giàu hình ảnh để giáo dục văn hóa truyền thống, chẳng hạn: "đằng đằng sát khí", "sức địch muôn người", câu nói "Giấu đầu hở đuôi" (Suất cơm phần bà) hoặc "Trời mưa, rãnh nhà ai, người nấy xẻ!" (Ai tốt hơn ai).
    • Ngôn ngữ miêu tả gợi hình, gợi cảm: Tái hiện tâm trạng căng thẳng của nhà bác học Pa-xtơ với khuôn mặt "phờ phạc", "đôi mắt thăm thẳm"; vẽ nên bức tranh biển cả sống động với thuyền nằm "như ngủ say", sóng "tung trắng cả bọt", tiếng sóng "ì ầm" (Trên bờ biển); hay đặc tả sự hùng mạnh của quân đội thời Lê Hoàn qua chi tiết thuyền chiến "san sát", giáo gươm "sáng lòa", cánh đồng trâu bò "đen đặc", bụi bay "mù mịt" (Vua Lê Đại Hành giữ nước).
    • Sử dụng phương ngữ đa dạng: Xuất phát từ tính chất phục vụ học sinh cả nước, bộ truyện đan xen từ ngữ địa phương, đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ: "ủa", "chi vậy", "hay lắm nghen", "giàn thun", "uổng thiệt", "hên", "ổng", "ngoại", "đi kiếm", "cái kềm" (cái kìm), "ná thun" (súng cao su), "quẹt ga" (bật lửa) trong các truyện Điều không tính trước, Tiền và lửa.
  • Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật:
    • Giọng điệu triết lý về lẽ sống: Những bài học nhân sinh, thế sự không áp đặt khô khan mà được truyền tải tự nhiên qua lời khuyên nhủ của ông bà, cha mẹ. Nổi bật là triết lý về những vết đinh trên hàng rào gỗ tương tự lời nói sát thương khi giận dữ (Những vết đinh), hoặc bài học so sánh "nói dối là một cây cỏ dại" cần phải sớm nhổ bỏ (Bài học nhớ đời).
    • Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình: Kế thừa lối kể truyền thống của truyện cổ tích dân gian, mở đầu bằng mô-típ quen thuộc "Ngày xửa, ngày xưa", tạo không khí nhẹ nhàng, êm dịu, lôi cuốn tâm hồn trẻ thơ vào không gian cổ tích và các dị bản phóng tác (Cây khế, các truyện cổ viết lại).
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật và sử dụng chất liệu dân gian: Khóa luận nêu bật thủ pháp nhân hóa trong truyện đồng thoại (biến loài vật, sông núi, hoa lá thành nhân vật có cá tính như Ngựa Trắng, Hồ Gương, Sóc, Gà, Vịt) và việc khai thác chất liệu văn hóa dân gian (mô-típ nhân quả, truyện cổ tích, truyền thuyết lịch sử) nhằm thích ứng với năng lực tiếp nhận của lứa tuổi học sinh tiểu học.

Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả định lượng, khóa luận đã thiết lập một bảng dữ liệu phân loại toàn diện cho 231 tác phẩm truyện đọc tiểu học:

  • Tỷ lệ nguồn gốc: 165 tác phẩm văn học Việt Nam (chiếm 71,4%) và 66 tác phẩm văn học nước ngoài (chiếm 28,6%).
  • Tỷ lệ mảng đề tài: Tình yêu quê hương đất nước chiếm gần 15% (hơn 30 truyện, phần lớn ở lớp 4 và lớp 5); mảng tình cảm gia đình chiếm 27 truyện; phần còn lại phân bố đồng đều cho các mảng tình bạn, lòng trắc ẩn - tình người và tình nghĩa thầy trò.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, công trình mang lại các giá trị cụ thể:

  • Đóng góp học thuật: Khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các luận văn đi trước (vốn chỉ khảo sát đơn lẻ từng tác giả như Phạm Hổ, Tô Hoài, Trần Hoài Dương hay Hồ Chí Minh). Khóa luận là công trình khảo sát có tính bao quát và hệ thống đầu tiên về cả bộ sách Truyện đọc từ lớp 1 đến lớp 5 do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành năm 2019.
  • Đóng góp thực tiễn sư phạm: Hệ thống hóa các ngữ liệu và giá trị nghệ thuật giúp giáo viên tiểu học có nguồn tham khảo tin cậy để thiết kế bài giảng phân môn Kể chuyện sinh động hơn; giúp các nhà giáo dục tích hợp việc rèn luyện 3 kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc) với việc giáo dục kỹ năng sống và nhân cách cho học sinh tiểu học. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là tài liệu giúp phụ huynh nhận thức đúng vai trò của bộ sách để phối hợp hướng dẫn trẻ đọc sách tại nhà.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi ngữ liệu của đề tài giới hạn chặt chẽ trong bộ sách Truyện đọc (lớp 1 đến lớp 5) do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2019. Đề tài tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lý luận văn bản (phân tích nội dung và nghệ thuật), chưa thực hiện khảo sát định lượng trên diện rộng về mức độ tiếp nhận thực tế của học sinh hay tiến hành các tiết thực nghiệm sư phạm đối chứng trên lớp học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh bộ truyện đọc này với các bộ ngữ liệu đọc mở rộng mới được biên soạn theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (các bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Cánh diều, Chân trời sáng tạo). Bên cạnh đó, có thể phát triển đề tài theo hướng nghiên cứu ứng dụng: xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu và quy trình tổ chức hoạt động kể chuyện tích hợp giáo dục kỹ năng sống từ bộ truyện đọc tiểu học.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng rõ rệt cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Ngữ văn: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc khoa học về phương pháp khảo sát, phân loại và phân tích tác phẩm văn học thiếu nhi trong nhà trường.
  • Giáo viên tiểu học: Nguồn tư liệu trực tiếp giúp hiểu sâu đặc điểm nội dung, nghệ thuật của từng truyện, từ đó chọn lọc dẫn chứng và tình huống thực tế để đưa vào các tiết dạy Tiếng Việt, Kể chuyện và Hoạt động trải nghiệm.
  • Các nhà biên soạn sách và phụ huynh học sinh: Cung cấp cơ sở lý luận và định lượng về cơ cấu chủ đề, mức độ sử dụng ngôn ngữ đời thường, phương ngữ và tính triết lý phù hợp với tâm lý tiếp nhận của trẻ theo từng độ tuổi từ lớp 1 đến lớp 5.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát tổng cộng bao nhiêu tác phẩm và nguồn gốc xuất xứ cụ thể ra sao?
Khóa luận tiến hành khảo sát toàn bộ 231 tác phẩm trong bộ sách Truyện đọc từ lớp 1 đến lớp 5 (NXB Giáo dục Việt Nam, 2019). Trong đó, văn học Việt Nam có 165 tác phẩm (gồm văn học dân gian và văn học viết) và văn học nước ngoài có 66 tác phẩm.

2. Mảng chủ đề tình yêu quê hương đất nước chiếm tỷ lệ bao nhiêu và được phân bố tập trung ở khối lớp nào?
Chủ đề tình yêu quê hương đất nước chiếm gần 15% tổng số tác phẩm (tương đương hơn 30 truyện). Đề tài này được tác giả bộ sách bố trí tập trung nhiều nhất ở khối lớp 4 (77 truyện) và khối lớp 5 (70 truyện) trong các chủ điểm như Việt Nam – Tổ quốc em, Người công dân, Anh hùng dân tộc, phù hợp với sự phát triển tư duy xã hội của học sinh lứa tuổi cuối cấp tiểu học.

3. Khóa luận đã chỉ ra những phương ngữ nào xuất hiện trong các tác phẩm truyện đọc tiểu học?
Tác giả dẫn chứng việc sử dụng các phương ngữ (đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ) trong các tác phẩm như Điều không tính trước, Tiền và lửa, bao gồm các từ ngữ cảm thán và khẩu ngữ: "ủa", "chi vậy", "hay lắm nghen", "giàn thun", "uổng thiệt", "hên", "ổng", "ngoại", "đi kiếm", cùng các định danh sự vật đặc thù như "cái kềm" (kìm bấm), "ná thun" (súng cao su), "quẹt ga" (bật lửa).

4. Nội dung của bộ truyện đọc được tác giả phân loại thành những chủ đề tình cảm cụ thể nào trong Chương 1?
Trong Chương 1, tác giả phân loại toàn bộ nội dung giáo dục của bộ sách thành 5 mạch chủ đề:

  • Tình yêu quê hương đất nước thiêng liêng sâu sắc;
  • Tình cảm gia đình ấm áp, yêu thương;
  • Tình bạn chân thành, gắn bó;
  • Tình người đẹp đẽ và lòng trắc ẩn đối với con người, vạn vật;
  • Tình cảm thầy trò cao đẹp.

5. Khóa luận do ai thực hiện và bộ sách truyện đọc được khảo sát do những tác giả nào biên soạn?
Khóa luận do sinh viên Hà Việt Hoàng (Khoa Tiểu học – Mầm non, Trường Đại học Hoa Lư) thực hiện năm 2021 dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Phương Thảo. Bộ sách ngữ liệu khảo sát xuất bản năm 2019 bởi NXB Giáo dục Việt Nam, gồm: tập 1, 2, 3 do Trần Mạnh Hưởng và Lê Hữu Tỉnh tuyển chọn, giới thiệu; tập 4 do PGS. Hoàng Hòa Bình tuyển chọn, biên soạn; tập 5 do PGS. Hoàng Hòa Bình và TS. Trần Thị Hiền Lương tuyển chọn, biên soạn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Việt Hoàng đã thực hiện thành công việc khảo sát toàn diện 231 tác phẩm trong bộ sách Truyện đọc từ lớp 1 đến lớp 5 do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2019. Công trình đã làm rõ 5 hệ giá trị nội dung tư tưởng giàu tính nhân văn cùng các nét đặc sắc về ngôn ngữ đời thường, phương ngữ và giọng điệu nghệ thuật phù hợp với học sinh tiểu học. Qua đó, nghiên cứu khẳng định vị trí bổ trợ quan trọng của bộ sách trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ và bồi dưỡng kỹ năng sống cho trẻ, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học.