Chương 1 9 TIỂU THUYẾT THẨM THỆ HÀ TRONG KHÔNG GIAN VĂN HỌC YÊU NƯỚC CÁCH MẠNG 1. HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG THẨM THỆ HÀ 1.Con đường đến với sáng tạo văn chương của Thẩm Thệ Hà Thẩm Thệ Hà là một trong những cây bút tiên phong của dòng văn học tranh đấu miền Nam. Trong dàn hợp xướng nhiều âm sắc của các thế hệ nhà văn giai đoạn này, Thẩm Thệ Hà đã tạo được một dấu ấn riêng với lối viết không cầu kỳ nhưng sâu đậm, phản ánh đúng tinh thần thời đại. Cả cuộc đời cầm bút, Thẩm Thệ Hà đã lặng lẽ dùng ngòi bút của mình để viết như là sống, để dốc hết tâm huyết và khát khao về một đất nước tự do, hòa bình.
Nhắc đến dòng văn học yêu nước cách mạng tại các đô thị miền Nam không thể không nhắc đến tên tuổi của nhà văn Thẩm Thệ Hà. Cùng với văn học cách mạng miền Bắc và văn học giải phóng miền Nam, văn học yêu nước đô thị miền Nam đã làm nên diện mạo của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chiến tranh chống xâm lược. Trên khoảng trời văn học đó, Thẩm Thệ Hà đã có nhiều đóng góp đáng ghi nhận. Thẩm Thệ Hà (1923 – 2009) tên thật là Tạ Thành Kỉnh, sinh ra và lớn lên tại làng Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Có thể nói con người, cảnh vật mảnh đất nơi này đã thấm sâu vào trong từng hơi thở, máu thịt của ông để rồi từ đó lan tỏa qua mỗi trang viết. Vì vậy, trong nhiều tác phẩm của Thẩm Thệ Hà, người đọc dễ dàng bắt gặp hình ảnh những nhân vật có sợi dây gắn bó chặt chẽ với Tây Ninh. Đó là Hoàng trong Bạc áo hào hoa, Tuấn, Trọng trong Đời tươi thắm, hay Tuấn trong truyện ngắn Ai nghe lòng đất quặn đau… Họ đều có một tình cảm sâu nặng với Tây Ninh. Mỗi lần về nơi ấy, họ như “sung sướng được sống lại thời kỳ trẻ thơ” [63, tr.
Đọc 10 tác phẩm của Thẩm Thệ Hà còn được biết cụ thể Tây Ninh có núi Bà Đen, có suối Sâu, có xóm đạo Tha La… bởi nhà văn viết về địa danh này thật ấn tượng, thôi thúc bước chân người tìm đến. Tất cả đều được nhà văn trân trọng đưa vào tác phẩm của mình bằng biết bao nhiêu lòng nhung nhớ, bằng cảm xúc chân thành của một người con xa quê hương. Có thể nói quê hương đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng chan chứa góp phần không nhỏ hình thành nên những sáng tác của nhà văn Thẩm Thệ Hà. Vùng quê đó cũng đã trở thành ngọn nguồn cảm xúc sâu lắng để nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần được Thẩm Thệ Hà đưa về Trảng Bàng ăn Tết đã cho ra đời bài thơ Tha La nổi tiếng một thời làm rung cảm biết bao tâm hồn.
Giữa mùa chinh chiến, xóm đạo Tha La hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, yên ả. Đó cũng chính là vẻ đẹp của bao miền quê trên đất nước dẫu phải chìm trong trong mịt mù khói lửa đạn bom tàn phá của chiến tranh. Đây Tha La xóm đạo Có trái ngọt cây lành Tôi về thăm một dạo Giữa mùa nắng vàng hanh Ngậm ngùi Tha La bảo - Đây rừng xanh rừng xanh Bụi đùn quanh ngõ vắng Khói đùn quanh nóc tranh Gió đùn quanh mây trắng Và lửa đạn xây thành… (Tha La) Với tình yêu quê hương tha thiết và sự đồng cảm với những tâm hồn văn chương, đã có lần Thẩm Thệ Hà bộc bạch: “Chính cái xứ nghèo cằn cỗi nhưng giàu lòng nhân ái của tôi đã giúp cho thi nhân tạo thành những vần thơ diễm tuyệt” [63, tr. 11 Thời niên thiếu, Thẩm Thệ Hà đã sớm ý thức được việc học của mình.
Sinh ra trong một gia đình trung lưu khá giả nên Thẩm Thệ Hà càng có nhiều điều kiện hơn so với những bạn bè ở làng quê nghèo bên dòng sông Vàm Cỏ. Được ba mẹ gửi lên Sài Gòn học, Thẩm Thệ Hà đã không phụ lòng gia đình khi ông đỗ tú tài Pháp năm 22 tuổi bằng chính sự thông minh và nỗ lực không ngừng của mình. Suốt những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường, Thẩm Thệ Hà đã sớm bộc lộ một tâm hồn thơ mộng, đầy khát khao, hoài bão được thể hiện qua những sáng tác thơ ca đầu tay. Đảm nhận vai trò người chủ bút của tạp chí Bạn trẻ từ năm 14 tuổi, Thẩm Thệ Hà càng có nhiều cơ hội để phát triển niềm đam mê văn chương.
Tạp chí Bạn trẻ cũng chính là mảnh đất ươm mầm những tài năng cho nhiều nhà văn, nhà thơ trẻ của miền Nam lúc bấy giờ như: Hường Hoa, Khổng Dương, Vân Anh, Đoàn Giỏi, Ngọc Thạch… Năm 1937, Thẩm Thệ Hà bắt đầu được biết đến khi đăng đàn với những sáng tác thơ ca ở một số tờ báo và tạp chí Hà Nội, Sài Gòn như: Phổ Thông bán nguyệt san, Chúa Nhật, Thanh Niên, Điện tín… với bút danh Thành Kỉnh. Những bài thơ nhẹ nhàng, đậm chất trữ tình như Cài trâm, Chiều tương tư, Rồi một chiều xuân… nhanh chóng được độc giả đón nhận. Thẩm Thệ Hà đặt những bước chân đầu tiên đến với làng văn từ dạo đó với tư cách một nhà thơ. Có lẽ vì vậy trong những sáng tác văn xuôi của Thẩm Thệ Hà sau này luôn có sự kết hợp với thơ ca tạo nên nhiều cảm xúc cho người đọc khi tiếp cận tác phẩm.
Đồng thời, tâm trạng nhân vật cũng được thể hiện một cách rõ nét, có chiều sâu hơn qua sự kết hợp khéo léo với những vần thơ. Đó là hình ảnh của Lan trong Bạc áo hào hoa với những cung bậc cảm xúc “như còn nương theo âm hưởng bay vút tận trời mây. Má nàng ửng hồng, mi nàng chớp chớp như hai cánh bướm” [26, tr.127] khi đọc được bài thơ của người yêu gửi tặng: “Đường mây suối mộng không bờ, Tôi đi tôi hái hoa thơ cài lòng. Sông dài, bể rộng mênh mông.
12 Thuyền hồn lơ lửng trên dòng tương tư. Thu nay đã mấy thu chừ, Cây vàng võ, lá trầm tư cũng nhiều. Đời buồn ngập mấy thương yêu. Lòng sao chưa dứt một chiều mộng mơ”.
Hay đó là những câu thơ trong đoạn kết của tiểu thuyết Đời tươi thắm như gieo vào lòng người âm hưởng da diết bởi giọng thơ trữ tình: “Em sẽ là tiên của cõi đời, Mộng hồng đem rải khắp nơi nơi Kẻ trần ngơ ngác khi trông thấy, Uyển chuyển mình mai, yểu điệu lời”. Trong giai đoạn lãng mạn tiền chiến, Thẩm Thệ Hà cũng như nhiều văn thi sĩ lúc bấy giờ đều chịu ảnh hưởng của luồng gió lãng mạn. Vì vậy, chúng ta dễ bắt gặp trong thơ ông những thi liệu cổ, những hình ảnh khá quen thuộc như bến đò, dòng sông, áng mây… “Tơ trắng phương trời bay lẽo đẽo Vàng hoa ngõ vắng rụng bơ vơ Dòng thu sóng gợn buồn man mác Mà nét hoa sao vẫn thẫn thờ” (Trễ tràng) Bút danh Thành Kỉnh của ông được nhiều người biết đến với bài thơ đầu tay Bến đò chiều đăng trên Phổ thông bán nguyệt san. Chất trữ tình, êm ái trong thơ Thẩm Thệ Hà ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám không tạo nên những đột phá, không có nhiều sự cách tân nhưng đã đi vào lòng người bởi sự nhẹ nhàng, tinh tế trong mối giao hòa với thiên nhiên, đất trời: “Sông lạc dòng sông, thuyền lạc thuyền, Bến đò chiều vãng cuộc tình duyên.
13 Ven bờ sông vắng vời chân lại Nhặt lá vàng bên cạnh nỗi niềm”. (Bến đò chiều) Không gian trong Bến đò chiều có cái buồn man mác như không gian bao la, rộng lớn với hình ảnh dòng sông, con thuyền trong Tràng giang của Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. (Tràng giang) Sau năm 1945, Thẩm Thệ Hà tích cực tham gia vào phong trào Báo chí Thống nhất và có sự chuyển biến lớn trong tư tưởng, quan điểm sáng tác.
Đây cũng chính là quãng thời gian cho ông có duyên được gặp gỡ những người bạn văn, bạn chiến đấu cùng chung lý tưởng, cùng sự đồng điệu tâm hồn như Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang, Hoàng Tấn. Những năm tháng trải nghiệm đó đã hun đúc cho ông thêm lòng nhiệt huyết, niềm say mê để ông có thể kiên trì bám trụ trong Ban Văn – báo – giáo Sài Gòn suốt từ năm 1953 đến năm 1975. Năm 1949, Thẩm Thệ Hà cùng với Vũ Anh Khanh (1926 – 1956) thành lập nhà xuất bản Tân Việt Nam. Sự kết hợp của hai tâm hồn yêu nước mạnh mẽ ấy đã cho ra đời nhiều tác phẩm cổ vũ phong trào văn chương tranh đấu thể hiện tinh thần yêu nước tích cực của toàn dân.
Vào dịp Tết năm 1950, Thẩm Thệ Hà cùng Vũ Anh Khanh được tổ chức cách mạng địa phương đưa vào chiến khu Bời Lời (hiện nay thuộc huyện Dương Châu, tỉnh Tây Ninh) để tham quan, dự lễ Dân Quân Chính và Tết Quang Trung. Sau chuyến đi này, Thẩm Thệ Hà đã nỗ lực để phát triển hoạt động của nhà xuất bản Tân Việt Nam với hai ấn phẩm của Vũ Anh Khanh là Bên kia sông và Ngủ Tử Tư. 14 Cũng trong giai đoạn này, tiểu thuyết Người yêu nước của Thẩm Thệ Hà, Nửa bồ xương khô của Vũ Anh Khanh, biên khảo Việt Nam trên đường cách mạng tân văn hóa của Thẩm Thệ Hà là những tác phẩm đã gây được tiếng vang trên văn đàn thời bấy giờ. Tác phẩm Lưu động của Thẩm Thệ Hà đã có nhiều tác động tích cực đến bạn đọc.
Tuy nhiên, Lưu động vừa xuất bản đã bị chính quyền thực dân tịch thu và cấm lưu hành toàn quốc. Nửa bồ xương khô của Vũ Anh Khanh cũng bị tịch thu ngay sau khi vừa phát hành được nửa tháng. Nhà xuất bản Tân Việt Nam cũng bị cấm hoạt động vĩnh viễn. Trước tình hình đó, Vũ Anh Khanh phải rút vào chiến khu để tránh sự truy bắt của địch.
Thẩm Thệ Hà rút về hoạt động bí mật, tạm ngưng hoạt động văn nghệ một thời gian và chuyển sang nghề dạy học ở các trường trung học ở Sài Gòn. Niềm căm phẫn của Thẩm Thệ Hà càng tăng lên khi phải chứng kiến những người đồng chí của mình bị bắt, bị truy lùng ráo riết. Sau Tết năm 1947, Dương Tử Giang bị bắt, tờ báo Văn hóa bị tịch thu và đóng cửa vì bài viết “Quyền tối thượng của nhà văn” của Dương Tử Giang đã đả kích thẳng tay những chính sách của chính quyền thực dân đối với nhà văn và những người yêu nước. Thẩm Thệ Hà đã bộc bạch trong hồi ký Bâng khuâng nhớ mãi một thời của mình: “Tin đó không làm tôi ngạc nhiên, chỉ làm tăng niềm căm phẫn.