Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về U lympho thể nang 1. Giới thiệu chung về U lympho thể nang ULP thể nang là một trong những ULP không Hodgkin sớm nhất được mô tả (5, 9). Trong nhiều năm, ngay cả sau khi nhận ra đầy đủ bản chất ác tính của ULP thể nang, nhiều bác sĩ lâm sàng và bệnh lý học vẫn tin rằng ULP thể nang chủ yếu là giai đoạn trung gian giữa các loại bệnh khác nhau của hệ thống tạo máu có khả năng biến đổi thành các tiểu loại khác (10, 11).
Mãi cho đến khi có sự ra đời phân loại Henry Rappaport vào năm 1956 một ấn phẩm đánh dấu bước ngoặt, ULP thể nang mới được tách biệt trong “vương quốc” của ULP ác tính (12). Lĩnh vực ung thư hạch đã có nhiều bảng phân loại khác nhau và đôi khi mang tính cách mạng như Gall và Mallory, Rappaport Kiel, Lukes Collins, và gần đây là công thức thực hành (WF), REAL và cuối cùng là WHO (12-16). Bốn biến thể của ULP thể nang được công nhận: trong tân sinh nang tại chỗ; ULP thể nang loại tá tràng; ULP thể nang tinh hoàn; và biến thể khuếch tán của ULP thể nang. ULP trung tâm nang da nguyên phát được phân loại riêng (17).
Dịch tễ học U lympho thể nang ULP thể nang chiếm khoảng 20-25% ULP không Hodgkin ở Hoa Kỳ, với tỷ lệ mắc hàng năm khoảng 14.000 ca mới mỗi năm (18). Teras cộng sự đã phân tích dữ liệu từ các cơ quan giám sát, dịch tễ học và kết quả (SEER) từ đó đưa ra ước tính tỷ lệ mắc ULP thể nang của Hoa Kỳ từ 2011 đến 2012 là 3,4 trên 100. Cũng qua nghiên cứu này các tác giả cũng chỉ ra rằng trong khi hầu hết các khối u ác tính bạch huyết cho thấy nguy cơ cao hơn đối với nam giới nhưng điều này không thấy ở ULP thể nang, với tỷ lệ nữ/nam là 1,18 (5). ULP thể nang phổ biến nhất ở Bắc Mỹ và Tây Âu, và phần lớn ít gặp hơn ở Đông Âu, Châu Á, Châu Phi và ở người Mỹ gốc Phi (19).
Tuổi trung bình trong chẩn đoán là 59 tuổi và tỷ lệ nam nữ là 1: 1. Bệnh hiếm gặp ở những người dưới 20 tuổi và các trường hợp nhi dường như đại diện cho một thực thể bệnh riêng biệt, thường khu trú, thiếu sự 5 chuyển vị t (14; 18) và giảm biểu hiện BCL2 tiên lượng rất tốt (20). Bệnh sinh U lympho thể nang Cho tới nay, nguyên nhân sinh bệnh của ULP không Hodgkin nói chung và ULP thể nang nói riêng vẫn chưa được chứng minh một cách rõ ràng. Đã có nhiều yếu tố được đưa ra cho là có liên quan đến quá trình phát sinh của bệnh, song đều chưa được chứng minh.
Tuy vậy, một số yếu tố được coi là đáng chú ý và có ý nghĩa hơn cả. Yếu tố miễn dịch và nhiễm khuẩn Các nghiên cứu cho thấy các bệnh tự miễn thường không liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc ULP thể nang ngoại trừ hội chứng Sjögren (3). Bệnh nhân mắc các bệnh dị ứng (ngoại trừ bệnh chàm) nguy cơ bị ULP thể nang thấp hơn các ULP khác(3, 21). Nữ giới bị viêm mũi dị ứng và dị ứng thức ăn có nguy cơ mắc ULP thể nang thấp hơn, nhưng điều này không rõ ràng ở nam giới (3).
Một điều thú vị là các yếu tố gây suy giảm miễn dịch như bệnh nhân nhiễm HIV, cấy ghép tạng, nhiễm EBV làm tăng nguy cơ mắc ULP ác tính khác nhưng không làm tăng nguy cơ mắc ULP thể nang (22, 23). Môi trường Yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của ULP thể nang. Nguy cơ ULP thể nang tăng đáng kể khi tiếp xúc với các dung môi hóa học như benzen, toluene, xylene và styrene. Sự chuyển vị t (14; 18) được tìm thấy ở nhiều bệnh nhân có liên quan đến một số thuốc trừ sâu nông nghiệp (24, 25).
Yếu tố gia đình Một nghiên cứu lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ và Úc cho thấy có người thân trong gia đình mắc ULP không Hodgkin làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh ULP thể nang nhưng nếu người thân mắc bệnh bạch cầu hoặc ung thư hạch Hodgkin dường như không làm tăng nguy cơ mắc bệnh ULP thể nang. Nguy cơ cao gấp 3,6 lần ở những người có người thân là nam giới bị đa u tủy xương so với dân số nói chung. Tuy nhiên, điều này là không rõ ràng nếu có người thân là phụ nữ (3). Một nghiên cứu khác trên 4455 cá nhân trong các gia đình có người bị ung thư Thụy Điển cho thấy tiền sử ULP thể nang của cha mẹ làm tăng đáng kể nguy cơ mắc ULP thể nang 6 ở con cái (tỷ lệ mắc chuẩn hóa là 6,1), trong khi anh chị em bị ảnh hưởng có nguy cơ cao gấp 2,3 lần (26).
Chẩn đoán xác định U lympho thể nang Chẩn đoán xác định ULP không Hodgkin cần dựa vào các đặc điểm sau: - Các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng: Bệnh nhân thấy xuất hiện hạch bạch huyết lan tỏa không đau. Hiếm hơn, có thể thấy đau bụng, no sớm và bụng to lên do khối bụng lớn hoặc gan lách to gây ra. Khoảng 10% bệnh nhân có triệu chứng B (sốt, đổ mồ hôi đêm hoặc giảm 10% trọng lượng cơ thể). ULP thể nang đôi khi xuất hiện ở các vị trí ngoài hạch như da, đường tiêu hóa, mắt và vú.
- Xét nghiệm mô bệnh học hạch hoặc tổ chức lympho: là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán. U lympho thể nang và tăng sản lympho nang Nguồn: Sakhdari, A. Pathologic Features, Grading, and Variants of Follicular Lymphoma. (A) Hình ảnh ULP nang với độ phóng đại thấp cho thấy nhiều nang tân sinh với quần thể tế bào đồng nhất, thiếu phân cực và giao diện mờ giữa vùng phủ và trung tâm mầm bệnh.
(B) Hình ảnh ULP thể nang độ phóng đại cao cho thấy ưu thế của các tế bào nhỏ và rải rác các tâm bào lớn. (C) Hình ảnh tang sản lympho nang độ phóng đại thấp cho thấy sự mở rộng của nang lympho, còn phân cực, bao quanh bởi vùng phủ rõ. (D) Hình ảnh tăng sản lympho nang độ phóng đại cao cho thấy trung tâm mầm mở rộng, còn cực tính với hai vùng tối và sáng. 7 Thay đổi cấu trúc nang lympho: các nang tân sinh phát triển đồng nhất với sự mất cực tính, vùng rìa co nhỏ, thay đổi tỷ lệ của tâm bào và nguyên tâm bào (Hình 1.
Những đặc điểm này phân biệt với tăng sản nang lympho với các trung tâm mầm tăng sản và tăng khoảng cách các nang (Hình 1.6C), và các nang phản ứng cho thấy ranh giới giữa vùng phủ và trung tâm mầm còn rõ, còn tính phân cực của các trung tâm mầm (Hình 1. Các tế bào u thường xuất hiện ở khu vực gian nang với số lượng nhỏ, nhưng đôi khi cũng có thể lan rộng ở khu vực này. Sự liên quan của các xoang tuỷ bên trong hạch bạch huyết cũng như thường được quan sát thấy (3, 26, 27). ULP nang cũng có xu hướng liên quan đến các mô và cấu trúc xung quanh.
Các tế bào trung tâm tân sinh có kích thước lớn hơn khoảng 2 lần đường kính so với các tế bào lympho trưởng thành (Hình 1. Các tâm bào ác tính cho thấy tế bào chất hẹp và đôi khi khó nhận biết, nhân tế bào tăng sắc, méo mó mà không có hạt nhân. Ngược lại, các nguyên tâm bào ác tính kích thước gấp 3- 4 lần các tế bào lympho trưởng, nhân hình bầu dục hoặc tròn với 1-3 hạt nhân riêng biệt, nguyên sinh chất phong phú vừa phải (3). Ngoài các tế bào lympho tân sinh, vẫn còn có các tế bào lympho bình thường.
Các đại thực bào với cơ thể nhuộm màu có thể được tìm thấy trong cả ULP thể nang và tăng sản lympho nang, nhưng thường được tìm thấy nhiều hơn trong tăng sản. Các tế bào lympho T phản ứng (Hình 1.7 A), tế bào mô và tế bào đuôi gai (Hình 1.7B) hầu như được nhìn thấy trong tất cả các trường hợp ULP nang (27, 28). Nhuộm hoá mô miễn dịch 8 Nguồn: Sakhdari, A. Pathologic Features, Grading, and Variants of Follicular Lymphoma.
Springer, Cham (A) HMMD cho dấu hiệu tế bào T (CD3) cho thấy tế bào lympho T phân bố rải rác trong các trung tâm mầm và dày hơn trong các khu vực gian nang. (B) Hóa mô miễn dịch đối với dấu hiệu tế bào đuôi gai CD21 làm nổi bật phần mặt sàng bên dưới nang bạch huyết. Các trường hợp hiếm hoi có thể thấy sự biệt hóa thành tương bào của các tế bào tân sinh trong khi các tương bào phản ứng hiếm khi được nhìn thấy (29). Phân độ U lympho thể nang Nguồn: Csernus, B.
Grade I, II and III Follicular Lymphomas Express Ig VH Genes with Different Patterns of Somatic Mutation. 26, 2765–2772 (2020) Hệ thống phân loại hiện tại đối với ULP thể nang được WHO khuyến cáo dựa trên việc lấy trung bình số lượng nguyên tâm bào trên vi trường năng lượng cao (độ phóng đại × 400) trong mười nang lympho ác tính ngẫu nhiên và chia thành các lớp 1, 2 và 3. ULP thể nang lớp 1 có tới 5 nguyên tâm bào cho mỗi vi trường (Hình 1.8A); lớp 2 có 6 đến 15 nguyên tâm bào trên mỗi vi trường (Hình 1. Do các ULP thể nang lớp 1 và 2 dường như có cùng một ý nghĩa tiên lượng, nên khuyến nghị hiện tại là gộp chúng lại thành ULP thể nang cấp thấp.
ULP thể nang cấp 3 có 9 hơn 15 nguyên tâm bào trên mỗi trường. ULP thể nang lớp 3 được chia thành lớp 3A (khi các nguyên tâm bào xen kẽ với tâm bào) (Hình 1. ULP thể nang hạng 3A và 3B được gộp lại thành ULP thể nang cấp cao (Bảng 1. 1: Phân độ trong U lympho thể nang Phân độ Định nghĩa 1.
Độ thấp 0-15 nguyên tâm bào trên mỗi vi trường độ phóng đại cao (x400) - Độ 1 0-5 nguyên tâm bào - Độ 2 6-15 nguyên tâm bào 2. Độ cao >15 nguyên tâm bào trên mỗi vi trường độ phóng đại cao (x400) - Độ 3A Có cả tâm bào kích thước nhỏ kết hợp - Độ 3B Chỉ có nguyên tâm bào lớn, không thấy tâm bào - Xét nghiệm miễn dịch: Các tế bào u thường dương tính với Immunoglobulin bề mặt (IgM có hoặc không có IgD, IgG hoặc hiếm khi IgA). Chúng biểu hiện các kháng nguyên liên quan đến tế bào B (CD19, CD20, CD22 và CD79a) và thường dương tính với BCL2, BCL6 và CD10 và âm tính với CD5 và CD43 (Hình 1. Một số trường hợp, phổ biến nhất là lớp 3B, thiếu CD10 nhưng vẫn giữ biểu hiện với BCL6 (17).