CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI. Một số khái niệm được sử dụng trong đề tài Để tập trung nghiên cứu đề tài, trước hết cần giải quyết các vấn đề về khái niệm. Người viết tập trung tìm hiểu hai khái niệm căn bản “Đặc điểm tạo hình” và “Đặc điểm tạo hình trong tranh lụa”. Khái niệm “Đặc điểm tạo hình” Để hiểu đầy đủ khái niệm “Đặc điểm tạo hình”, chúng ta cần quan tâm đến khái niệm “Đặc điểm” và “Tạo hình”.
Khái niệm “Đặc điểm” Từ điển Từ và ngữ Hán- Việt, Nxb Thời đại do Huyền Linh biên soạn định nghĩa khái niệm “Đặc điểm”là: “ điểm đặc biệt của sự vật” [8, Tr. Trong quá trình tìm tài lại để nghiên cứu, người viết không tìm được nhiều từ điển đề cập đến khái niệm này. Hầu hết các từ điển Hán – Việt đều có định nghĩa giống như trên. Định nghĩa này khá ngắn gọn nêu được những điểm chính nhưng người viết chưa thực sự cảm thấy thoản mãn.
Khái niệm “Tạo hình” Tác giả Nguyễn Văn Khôn trong Từ điển Anh- Việt hiện đại đã dịch nghĩa từ “Art” nghĩa là: “Nghệ thuật, kỹ thuật, mỹ thuật”, cụm từ “Fine art” cũng có nghĩa là: “Mỹ thuật” [7, Tr. Trên các tài liệu, bài báo hoặc văn phong chuyên ngành nghệ thuật người Việt thường có xu hướng dịch từ “Art” mang nghĩa nghệ thuật nói chung và dùng cụm từ “Fine art” để chỉ mỹ thuật. Ngoài ra, từ điển còn có cụm từ “Plastic art” được dịch là nghệ thuật tạo hình. Ngày nay, trên thế giới và cả Việt Nam bắt đầu sử dụng thêm khái niệm “Visual art” nghĩa là nghệ thuật thị giác để thay thế cho khái niệm “Fine art” thường thấy như trước đây do sự phát triển, mở rộng, biến đổi, giao thoa ngày càng diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực nghệ thuật.
Kèm theo đó là các nghệ sĩ Luan van 16 hay dùng các cụm từ “artist”, “visual artist” hơn là “painter” hay “sculpture”, “printer”… để gọi tên ngành nghề các nghệ sĩ. Từ điển Bách khoa Việt Nam ghi rõ về khái niệm “Tạo hình”: “Tạo hình là thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục. Theo nghĩa rộng, tạo hình bao gồm hoạt động hội họa, điêu khắc, mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc, nhiếp ảnh. Theo nghĩa hẹp, tạo hình là hoạt động thuộc hội họa giá vẽ và điêu khắc.
Hội họa là nghệ thuật tạo hình trên mặt phẳng, bằng các yếu tố đường nét, màu sắc, hình diện. Trong cuốn Từ điển mỹ thuật phổ thông của Đặng Thị Bích Ngân định nghĩa “Tạo hình”: “Theo nghĩa rộng, tạo hình là sự sáng tạo mọi hình tượng nghệ thuật; theo nghĩa hẹp, tạo hình là sự sáng tác, sự khắc họa những đặc trưng về hình thể trong điêu khắc, hội họa, các ngành mỹ thuật ứng dụng và kiến trúc…Hội họa theo bút pháp tả thực, là sự triển khai trên không gian hai chiều những hình ảo mang đặc tính của không gian ba chiều…” [16, Tr. Rõ ràng, “Tạo hình” là khái niệm đề cập đến một phương thức hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật. Người nghệ sĩ sử dụng đến các ngôn ngữ, các yếu tố như màu sắc, đường nét, hình khối, không gian, ánh sang, mảng miếng…để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm nghệ thuật.
Người viết sẽ dựa theo cách định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam và dựa trên quy mô giới hạn nghĩa hẹp (trong hội họa và điêu khắc) để làm hệ quy chiếu cho phần nội dung luận văn của mình. Như vậy, có thể xác định khái niệm “Đặc điểm tạo hình” là: những đặc điểm nổi bật của thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục. Khái niệm “Đặc điểm tạo hình trong tranh lụa” Khái niệm “Tranh lụa” Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau: “Việt Nam cũng giống như một số nước phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…) có nghệ thuật vẽ tranh lụa. Tuy nhiên, hội họa thời kỳ phong kiến nước ta không được chú trọng.
Chính vì thế, ngày nay chúng ta còn rất ít di sản của nền nghệ thuật tranh lụa do ông cha để lại. Nguyễn Phan Chánh được coi là người có công xây dựng lên nền nghệ thuật tranh lụa hiện đại Việt Nam sau khi trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập (năm1925). Sự kết hợp của phương pháp làm việc hiện đại của hội họa phương Tây trên nền chất liệu truyền thống và tâm hồn phương Đông đã mang đến giá trị đặc sắc của tranh lụa hiện đại Việt Nam không lẫn của Tây mà cũng không lẫn của Tàu” [5, Tr. Định nghĩa đã nêu được thế nào là tranh lụa và cung cấp thêm thông tin cơ bản về quá trình hình thành cũng như một số đặc trưng.
Tuy nhiên, nên chăng chỉ cần dừng lại ở việc chỉ ra thế nào là tranh lụa cũng đã đầy đủ nội dung? Tranh lụa dùng tên gọi nền tranh (lụa) để gọi chất liệu. Điều này khác cơ bản đối với các chất liệu khác như sơn dầu, màu nước, bột màu… dùng màu vẽ để gọi tên chất liệu. Do đó, chắc chắn ở tranh lụa có rất nhiều điểm khác biệt với với các chất liệu khác. Theo cá nhân người viết, tranh lụa là: nghệ thuật vẽ tranh trên nền lụa, xuất phát từ các nước phương Đông.
Khái niệm “Đặc điểm tạo hình trong tranh lụa”: Từ những khái niệm và phân tích trên, người viết đưa đến khái niệm “Đặc điểm tạo hình trong tranh lụa” như sau: Đó là điểm nổi bật trong thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục… nhằm xây dựng nên hình tượng nghệ thuật trên chất liệu lụa. Mỗi họa sĩ, do tài năng, đặc điểm tâm sinh lý, quan điểm thẩm mỹ, yếu tố đời sống, xã hội… tác động thì sẽ có cách áp dụng những thủ pháp sáng Luan van 18 tạo, xây dựng hình tượng nghệ thuật khác nhau, tạo nên những tác phẩm khác nhau, phong cách nghệ thuật khác nhau. Khái quát về tranh lụa Việt Nam hiện đại 1. Khái lược sự hình thành và phát triển của tranh lụa Việt Nam hiện đại Tranh lụa là loại hình nghệ thuật xuất hiện ở các nước Á Đông từ lâu đời.
Việt Nam cũng có tranh lụa. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân (khí hậu khắc nghiệt, chiến tranh liên miên, quan điểm thẩm mỹ… ) hội họa Việt Nam thời phong kiến không được chú trọng nên hiện nay hầu như không còn nhiều hiện vật để chứng minh sự tồn tại có tính trọn vẹn của nền nghệ thuật tranh lụa cổ truyền. Ngày nay tranh lụa cổ còn lại rất ít, như chân dung Nguyễn Trãi, chân dung Phùng Khắc Khoan và một ít tranh thờ khác. Năm 1925, người Pháp thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đánh dấu sự ra đời của nền nghệ thuật hội họa tại Việt Nam.
Nếu như trước đây, những người làm nghệ thuật ở Việt Nam, đặc biệt là các nghệ nhân ở làng đều không được đào tạo bài bản, chỉ học theo lối truyền nghề thì bây giờ các họa sĩ được tiếp thu cách làm việc của người phương Tây. Học theo phương pháp khoa học của phương Tây nhưng có nhiều người bắt đầu tìm tòi để sử dụng phương pháp này để khai thác các yếu tố cổ truyền phương Đông, của dân tộc. Người đóng vai trò lớn nhất trong việc khai sinh ra nghệ thuật tranh lụa Việt Nam hiện đại chính là họa sĩ Nguyễn Phan Chánh. Ông đã sử dụng lối tư duy nghệ thuật châu Âu trên nền lụa phương Đông.
Thời kì trường Mỹ thuật Đông Dương, cùng với Nguyễn Phan Chánh còn có một số họa sĩ khác cũng nghiên cứu vẽ lụa như: Nguyễn Tiến Chung, Lương Xuân Nhị, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Lưu Văn Sìn, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Lê Văn Đệ… “Khuynh hướng thời kì này thiên về tìm tòi những mảng màu đơn giản, tìm phối sắc trong mảng hình, thường Luan van 19 dùng màu nâu, đen, màu sáng là màu của lụa. Bố cục chặt chẽ, nhân vật lớn, ít nền” [21, Tr. Sau 1945, nhiều nghệ sĩ đi theo kháng chiến, vào cuối giai đoạn này, có thêm một số họa sĩ vẽ tranh lụa như: Lê Vinh, Phan Thông, Trọng Kiệm… Ngôn ngữ tạo hình có sự chuyển biến. “Cách tìm tòi tạo hình không chỉ là tìm mảng nữa, có lúc đã sử dụng đậm nhạt vượt khỏi ranh giới các mảng hình.
Màu sắc đã sử dụng rộng rãi hơn (ngoài những màu nâu đất), đã sử dụng nét kế hợp với tìm mảng” [21, Tr. Năm 1955, trường Mỹ thuật được mở lại, khóa Trung cấp đầu tiên được lấy tên họa sĩ Tô Ngọc Vân làm tên gọi. Năm 1957, trường mở khóa đại học đầu tiên, từ đó chuyên khoa lụa được chính thức đưa vào chương trình đào tạo. Thế hệ vẽ lụa tiếp theo xuất hiện: Nguyễn Thụ, Vũ Giáng Hương, Trần Đông Lương, Phạm Công Thành, Ngô Minh Cầu, Dương Ánh, Mộng Bích… Khuynh hướng chủ yếu giai đoạn này hiện thực xã hội chủ nghĩa và ấn tượng.
Các họa sĩ chủ yếu tập trung khai thác đề tài cuộc sống chiến đấu và lao động của người dân, có một số tìm tòi trong cách thể hiện, bảng màu đa dạng, bút pháp linh hoạt, có họa sĩ tiếp tục phát triển lối vẽ cô đọng đơn giản, có người thì mạnh mẽ phóng khoáng hơn, không chỉ dừng lại ở mảng màu êm dịu. Năm 1976, đất nước hoàn toàn thống nhất. Từ năm 1980 nghệ thuật tranh lụa có những bước đi mới, xuất hiện một số đột phá trong tư tưởng và bút pháp thể hiện, có thể kể đến: Lương Xuân Đoàn, Lê Anh Vân, Kim Bạch… Sau năm 2000 nghệ thuật tranh lụa có chiều hướng chững lại, nhiều họa sĩ chuyển sang vẽ các chất liệu khác như sơn dầu, acrylic, sơn mài… vì khả năng thể hiện đa dạng, nhanh, dễ bảo quản hơn và vì tính thương mại tốt hơn. Tranh lụa ít xuấn hiện dần ở các cuộc triển lãm.
Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, tranh lụa bắt đầu có những khởi sắc, nhiều họa sĩ vẫn tiếp tục vẽ lụa, nhiều họa sĩ trẻ tìm đến lụa. Đã có nhiều triển lãm dành riêng cho chất liệu này, nhiều nghệ sĩ tìm tòi phá cách trong chất liệu, bút pháp thể hiện, nội Luan van 20 dung chủ đề đa dạng, gần với hơi thở cuộc sống hiện đại không thuần êm dịu, nhẹ nhàng như trước.