Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CON SỐ 1. Khái niệm con số 1. Số từ trong phạm trù ý nghĩa chỉ lượng Phạm trù số, và rộng hơn phạm trù chỉ lượng, là một phạm trù thuộc ý nghĩa ngữ pháp mang tính phổ quát của mọi ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, có một hệ thống các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau cùng biểu đạt ý nghĩa chỉ lượng hay có liên quan đến ý nghĩa chỉ lượng.
Có nhóm thuộc thực từ, có nhóm thuộc hư từ. Đó là số từ (1 - một, 2 - hai, 3 - ba.), phụ từ (những, các, mọi.); ngoài ra còn có cả những từ loại khác, mặc dù ý nghĩa chỉ lượng không rõ bằng các từ loại trên, nhưng vẫn bao hàm yếu tố chỉ lượng, đó là đại từ chỉ lượng (toàn thể, tất cả, tất thảy.), đại từ chỉ thời gian (bao giờ, khi nào.), đại từ chỉ số (bao nhiêu, bấy nhiêu.), tính từ chỉ đặc điểm (nhiều, ít, đông, đầy.), phụ từ chỉ mức độ (lắm, quá, hơi, rất.v… Hệ thống từ gồm các từ loại tham gia diễn đạt ý nghĩa chỉ lượng nói trên có đặc điểm ngữ pháp và vai trò khác nhau khi tham gia vào trong tổ chức của lời nói, tức là khi xuất hiện trong những ngữ cảnh cụ thể. Chẳng hạn, các phụ từ chỉ lượng là những từ có khả năng kết hợp với danh từ, là thành tố phụ trong cụm danh từ (những con đường, các bạn cùng lớp); các đại từ chỉ lượng có thể kết hợp như phụ từ chỉ lượng (Tất cả mọi người đã sẵn sàng), có thể hoạt động như danh từ (Tất cả đã sẵn sàng); các phụ từ chỉ mức độ kết hợp với các động từ hay tính từ, ở phía trước hay sau cụm động từ hay tính từ (yêu thương lắm, đẹp quá). Trong số đó, số từ là loại chuyên dụng, điển hình về biểu thị số lượng.
Định nghĩa về số từ Trên cơ sở các ý kiến bàn luận, đánh giá, và kết quả khảo cứu về số từ của các công trình đi trước, để định hướng nghiên cứu rõ hơn, phù hợp với mục đích và phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định: Số từ là những từ chỉ số lượng (số lượng xác định hoặc biểu trưng) và thứ tự của sự vật. Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ thường đứng trước danh từ. Khi biểu thị thứ tự, số từ đứng sau danh từ. Như vậy số từ ở đây được chia làm hai tiểu loại: số từ chỉ số lượng và số từ chỉ thứ tự.
Ví dụ: 20 - Số từ biểu thị ý nghĩa số lượng: ba ký, hai con, năm cái; Dù ai nói ngả, nói nghiêng / Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân (cd). - Số từ chỉ thứ tự: Ai nhất thì tôi thứ nhì Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba. Đặc điểm của số từ 1. Đặc điểm về ý nghĩa a.
Số từ biểu thị nghĩa về số lượng, gồm: - Số từ chỉ lượng chính xác (các số trong dãy số đếm tự nhiên: một, hai, ba, bốn.); - Số từ chỉ số lượng không chính xác: vài, dăm, mấy, mươi. - Số từ chỉ lượng có nghĩa biểu trưng: Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân; Ba chân bốn cẳng; Mồm năm miệng mười, v. Số từ chỉ số thứ tự: thứ 7, phòng 5, người thứ 41. Đặc điểm về ngữ pháp a.
Khả năng kết hợp của số từ a. Khả năng kết hợp của số từ với danh từ: - Số từ kết hợp trước danh từ để biểu thị ý nghĩa số lượng sự vật nêu ở danh từ. Ví dụ: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh). - Số từ kết hợp sau danh từ để biểu thị ý nghĩa về thứ tự, hoặc đặc điểm về tổ chức, hoặc đặc điểm về số hiệu của sự vật được nêu ở danh từ.
Ví dụ: + Đời vua Hùng thứ 18. + Về hội hoa lan tôi cho anh biết thành lập năm 1973. + Hình như đêm bị đánh thức, sáng loà từ lúc ông già Sáu thét người đạp cửa, anh 1212 lên tiếng (Anh Đức). (1212 biểu thị đặc điểm về số hiệu.
Khi dùng kèm danh từ chỉ số hiệu, số từ có thể đặt sau từ số: Người tù mang số 1212 bước ra). Khả năng kết hợp của số từ với động từ, tính từ: 21 - Số từ kết hợp sau động từ để chỉ số lượng, mức độ của hành động được nêu ở động từ: Trâu đứng ăn năm Trâu nằm ăn ba. (Bài toán cổ) - Số từ kết hợp trước động từ hay tính từ trong các biểu ngữ rút gọn: Hai tốt; Ba sẵn sàng; Năm xung kích;. Khả năng kết hợp của số từ với đại từ: Số từ kết hợp với đại từ và danh từ để biểu thị số lượng người được nêu trong đại từ: Hai ta làm bạn thong dong.
Chức vụ ngữ pháp của số từ b. Số từ làm chủ ngữ trong câu: Khi làm chủ ngữ, số từ đứng đầu câu như các trường hợp các từ loại khác làm chủ ngữ. Ví dụ: - Ba mươi là số tự nhiên. - Hai với hai là bốn.
Số từ làm vị ngữ trong câu: Khi làm vị ngữ, số từ phải đứng sau là, bằng. Ví dụ: - Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Mỗi người làm việc bằng hai. Số từ làm thành tố phụ trong cụm từ để biểu thị ý nghĩa số lượng: - Số từ có thể đứng trước trong cụm danh từ.
Ví dụ: Chín con sông cùng đổ ra biển. - Số từ có thể đứng sau trong cụm danh từ. Ví dụ: Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 Do ý nghĩa chỉ lượng nên số từ thường đi kèm với danh từ. Chức năng cơ bản của số từ là làm thành tố phụ trong cụm danh từ.
- Số từ làm bổ ngữ trong cụm động từ, tính từ. Ví dụ: Hai nhân hai bằng bốn. Hai bằng bốn thì hai là bổ ngữ đối tượng, còn bốn là bổ ngữ kết quả. Tuy nhiên những số từ làm bổ ngữ cũng như số từ làm định ngữ của động từ, tính từ trong tiếng Việt không phổ biến như kết hợp với danh từ.
Về thuật ngữ “con số” Khi giải thích về thuật ngữ con số, Từ điển tiếng Việt chú giải: Con số là từ có nghĩa: “1. Con số 7, có ba con số lẻ. Số cụ thể. Con số chỉ tiêu” [98; tr.
Từ cách giải thích trên, có thể thấy thuật ngữ con số có đặc điểm về hình thức: mỗi con số được phát âm thành một tiếng (một, hai…) hay một số tiếng (mười lăm, năm mươi…), được viết thành một số (1, 2, 3,…) hoặc một tổ hợp (100, 101,.), có khi được viết thành chữ số (một, hai…). Về nội dung, con số là những số từ cụ thể trong tập hợp những từ ngữ chỉ lượng. Xác định khái niệm “con số” được áp dụng trong Luận án a. Tham khảo các định nghĩa về số từ, về con số, trong Luận án này, chúng tôi quy ước dùng thuật ngữ con số với cách hiểu: con số là những từ chỉ số lượng và thứ tự của sự vật (số lượng và vị thứ xác định hoặc biểu trưng).
Với cách hiểu này, con số là một đơn vị: Xét về mặt từ loại, con số chính là số từ được dùng trong từng ngữ cảnh cụ thể (con số gần giống với số, chẳng hạn: con số 4 hoặc số 4…). Con số là những từ chỉ số lượng, số thứ tự; con số chỉ số lượng xác định hay phiếm định, chỉ số lượng cụ thể hoặc biểu trưng. Con số, ngoài chức năng dùng để tính toán, còn được dùng với nghĩa biểu trưng (Ví dụ: Vững như kiềng ba chân). Quả thật, khi dùng thuật ngữ con số thì bản thân từ con cũng gợi được tính sống động, bởi từ “con” được sử dụng để gọi tên nhiều sự vật khác nhau: con người, con vật, con mắt, con thuyền, con kênh, con đường.v… Mặc dầu những sự vật được gọi là con không cùng loại với nhau song cùng có những điểm chung là: a) Là những cá thể, đơn vị nhỏ trong một tổng thể; b) Có hình dáng, hoạt động; c) Tồn tại trong tâm thức của người Việt như là những biểu tượng.
Theo đó thì con số cũng được coi là những sinh thể có hoạt động, có hình dáng, có đời sống riêng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người. Hình dáng con số không thể vẽ nên trên bức tranh như con kênh, con thuyền, con đường,. mà nó tồn tại trong ý niệm của con người. Cũng một con số nhưng có 23 khi gợi sự việc, hiện tượng nhỏ bé: một thân một mình (tình trạng lẻ loi, cô độc), có khi lại gợi sự vật, hiện tượng lớn lao: thiên nhân hợp nhất (trời đất hoà hợp làm một).
Như vậy, lớn hay bé, hình dáng, hoạt động như thế nào là do chính đời sống văn hoá của dân tộc tạo nên. Con số tồn tại như một sinh thể nhưng là sinh thể nghệ thuật trong sáng tạo dân gian. Thành ngữ, tục ngữ và ca dao và vấn đề con số 1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ, ca dao a.
Thành ngữ Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy được người Việt sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ. Về thành phần từ vựng, các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong sử dụng, trong nhiều trường hợp không thể thay thế bằng các yếu tố khác. Về cấu trúc, trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ thường mang tính cố định, khó thay đổi. Về ý nghĩa, thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật.
Nói cách khác, thành ngữ là đơn vị định danh của ngôn ngữ, nhưng là loại đơn vị định danh bậc hai - nghĩa là ngoài nghĩa gốc được hiểu từ các từ ngữ tạo nên thành ngữ thì còn một tầng nghĩa được thành ngữ hướng tới buộc người nghe phải suy ra từ chúng. Thành ngữ có mặt mọi lúc, mọi nơi trong đời sống giao tiếp của người Việt. Bất kỳ diễn đạt vấn đề gì, người Việt đều có thể mượn thành ngữ để thể hiện cách đánh giá của mình. Không những trong đời sống, thành ngữ còn có mặt trong các sáng tác văn học, làm nên tính dân tộc, tính nhân dân cho các sáng tác đó.
Xem xét con số trong thành ngữ, có thể khái quát một vài đặc điểm tiêu biểu của nó trong đời sống văn hoá người Việt. Tục ngữ Tục ngữ là những câu nói, là ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật.