Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Trần Thị Lam Thủy mang tiêu đề "Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam", thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 62.01), được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Mậu Cảnh vào năm 2013.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Con số là một hiện tượng mang tính phổ quát của nhân loại, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như triết học, văn hóa học và ngôn ngữ học. Trong ngôn ngữ học, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở các nhận xét khái quát về mặt ngữ pháp thuần túy như từ loại, khả năng kết hợp hay chức vụ cú pháp. Nhiều bình diện về ngữ nghĩa, ngữ dụng và đặc trưng văn hóa của con số trong tiếng Việt chưa được khảo sát, miêu tả một cách hệ thống và chuyên sâu. Trong khi đó, thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt là những thể loại văn học dân gian phản ánh sinh động hoạt động tính toán, đo đếm và tư duy định lượng của nhân dân lao động. Do đó, việc nghiên cứu con số trong ba thể loại này đáp ứng yêu cầu cấp thiết về cả phương diện lý luận ngôn ngữ học lẫn thực tiễn văn hóa - giao tiếp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:

  1. Góp phần làm rõ sự hoạt động của các con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao với tư cách là một từ loại trong tiếng Việt.
  2. Phân tích, lý giải ngữ nghĩa, vai trò và các biểu đạt văn hóa của con số trong ngữ cảnh thành ngữ, tục ngữ, ca dao; qua đó làm sáng tỏ quan niệm về con số trong tư duy và giao tiếp của người Việt.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về con số, các quan niệm về con số và các vấn đề lý thuyết liên quan.
  2. Thống kê, phân loại các con số được sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao.
  3. Miêu tả, phân tích các đặc điểm về hoạt động ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong ngữ cảnh.
  4. Làm rõ vai trò tổ chức văn bản của con số và giải mã ý nghĩa biểu trưng của con số từ góc độ văn hóa dân tộc.

Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của các con số mà người Việt sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thống kê, phân loại, mô tả và phân tích lý giải con số trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa.
  • Nguồn tư liệu khảo sát:
    • Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành, Nxb Văn hóa, 1993, 679 trang): Khảo sát 3.225 đơn vị thành ngữ, xác định 464 đơn vị có sử dụng con số (chiếm 14,4%), với 738 lượt kết hợp.
    • Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập, Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, 3.328 trang): Khảo sát 16.098 câu tục ngữ, xác định 2.164 câu có sử dụng con số (chiếm 13,44%), với 3.476 trường hợp / 3.605 lượt xuất hiện.
    • Kho tàng ca dao người Việt (2 tập, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, 2.766 trang): Khảo sát 12.419 bài ca dao, xác định 2.953 bài có sử dụng con số (chiếm 23,8%).
    • Từ vựng chữ số và số lượng (Bùi Hạnh Cẩn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997, 242 trang).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu con số theo các hướng tiếp cận chính trong và ngoài nước:

Các hướng nghiên cứu chính

  • Hướng nghiên cứu từ vựng - ngữ pháp: Các tác giả ngữ pháp học tiếng Việt có những quan điểm phân loại khác nhau về con số. Nguyễn Lân xếp con số vào nhóm tính từ. Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Phạm Tất Đắc, Trương Văn Chình, Đỗ Quang Thì gọi là "lượng số chỉ định tự". Nguyễn Tài Cẩn coi con số là một tiểu loại của danh từ ("danh từ số lượng"). Phần lớn các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Anh Quế, Hữu Quỳnh, Lê Biên, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Đỗ Thị Kim Liên xác định tập hợp các con số là "số từ". Về bản chất ngữ pháp, Đỗ Hữu Châu, Lê Biên, Nguyễn Hữu Quỳnh, Đỗ Thị Kim Liên coi số từ là thực từ; trong khi Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung cho rằng số từ mang tính chất trung gian giữa thực từ và hư từ.
  • Hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa: Tác giả Trần Gia Anh tìm hiểu giá trị biểu trưng của con số trong truyện dân gian và đời sống người Việt. Các nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng, Phan Ngọc, Nguyễn Đăng Duy, Nguyễn Đức Tồn chỉ ra các ấn tượng số (kiêng kỵ, may mắn, giải thích số phận, biểu đạt nghệ thuật) trong văn hóa Việt Nam và thế giới.
  • Hướng nghiên cứu ngữ dụng học: Đỗ Thị Kim Liên nghiên cứu ngữ nghĩa của số từ chỉ lượng "một" trong tục ngữ và con số trong thơ Nguyễn Bính; Nguyễn Văn Khang tìm hiểu ngôn ngữ - văn hóa qua cách sử dụng con số; Bùi Hạnh Cẩn biên soạn Từ vựng chữ số và số lượng; Đỗ Thanh biên soạn Từ điển công cụ.
  • Hướng nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận: Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Phú Thứ nghiên cứu bức tranh ngôn ngữ về thế giới và biểu tượng các con số (như số 3, số 5, số 7).
  • Hướng nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian: Các công trình nghiên cứu thi pháp và cấu trúc của Nguyễn Xuân Kính (Thi pháp ca dao), Phan Thị Đào (Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam), Triều Nguyên (Tiếp cận ca dao bằng phương pháp xâu chuỗi, Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt), Nguyễn Nhã Bản, Tạ Đức Hiền, Nguyễn Thị Thương phân tích giá trị tu từ và thẩm mỹ của con số trong tác phẩm cụ thể. Trên bình diện quốc tế, luận án dẫn chiếu các công trình nghiên cứu văn hóa và folklore của E. Tylor, V.Ia. Propp, V.M. Rodin, R. Lado.

Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù con số đã được đề cập ở nhiều mức độ, các công trình trước đây chủ yếu phân tích đơn lẻ hoặc xem xét con số như một biện pháp tu từ cục bộ. Chưa có một chuyên luận nào khảo sát toàn diện, đồng bộ và có hệ thống về con số trên cả ba thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao để chỉ ra đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và giải mã nhận thức văn hóa dân tộc của người Việt qua hệ thống con số.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Khái niệm số từ và con số: Phạm trù lượng là một phạm trù ngữ pháp mang tính phổ quát. Luận án quy ước: Con số là những từ chỉ số lượng và thứ tự của sự vật (số lượng và vị thứ xác định hoặc biểu trưng). Về bản chất từ loại, con số là số từ được hiện thực hóa trong ngữ cảnh cụ thể, mang tính sinh động của một biểu tượng nghệ thuật.
  • Lý thuyết về nghĩa: Luận án dựa trên lý thuyết ngữ nghĩa học phân biệt nghĩa gốc (nghĩa ban đầu, nghĩa sự vật - logic) và nghĩa biểu trưng (nghĩa phái sinh qua cơ chế ẩn dụ, hoán dụ, mang tính liên tưởng trừu tượng và văn hóa).
  • Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa: Luận án tiếp thu các luận điểm của F. de Saussure, W. von Humboldt, M. Heidegger, Vinokur và giả thuyết về tính tương đối của ngôn ngữ (Sapir - Whorf) để khẳng định: đặc trưng tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập) quy định phương thức tư duy và phản ánh mô hình văn hóa truyền thống của người Việt.
Bình diện so sánh Thành ngữ Tục ngữ Ca dao
Kết cấu ngữ pháp Cụm từ cố định Câu hoàn chỉnh Văn bản nghệ thuật hoàn chỉnh
Chức năng văn học Chức năng thẩm mỹ Chức năng thẩm mỹ, nhận thức, giáo dục Chức năng thẩm mỹ, nhận thức, giáo dục
Hình thức tư duy logic Diễn đạt khái niệm, khái quát hiện tượng riêng rẽ Diễn đạt phán đoán, khẳng định thuộc tính hiện tượng Biểu đạt trữ tình, mang tính duy cảm
Chức năng ngôn ngữ Định danh Thông báo Biểu cảm
Bản chất hiện tượng Hiện tượng ngôn ngữ Hiện tượng ý thức xã hội Hiện tượng tinh thần xã hội, tâm hồn nhân dân

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp thống kê - phân loại: Thu thập, thống kê tần số xuất hiện của các con số trong kho tàng ngữ liệu; phân loại theo tiêu chí từ loại, khả năng kết hợp cú pháp, chức năng ngữ pháp và loại hình ngữ nghĩa (nghĩa gốc/nghĩa biểu trưng).
  2. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Mô tả các ngữ cảnh sử dụng, cấu trúc kết hợp và các biến thể ngữ pháp - ngữ nghĩa của con số.
  3. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích cấu trúc nghĩa của từ, ngữ cảnh xuất hiện, chỉ ra nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn/biểu trưng của con số.
  4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự tương đồng và khác biệt về hoạt động ngữ pháp, ngữ nghĩa và tần suất của con số giữa ba thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
  5. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khái quát hóa các quy luật hoạt động của con số, tổng hợp các đặc trưng văn hóa và mô hình tư nhận thức của người Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến con số

Chương này xác lập hệ thống cơ sở lý luận cho toàn bộ luận án:

  • Phân tích vị trí của số từ trong phạm trù ý nghĩa chỉ lượng của tiếng Việt (phân biệt số từ với phụ từ chỉ lượng, đại từ chỉ lượng, tính từ chỉ lượng).
  • Xác định các đặc điểm ngữ pháp cơ bản của số từ: khả năng kết hợp trước danh từ (chỉ số lượng), kết hợp sau danh từ (chỉ thứ tự, số hiệu); kết hợp với động từ, tính từ, đại từ; đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, vị ngữ (đi kèm hệ từ "là", "bằng"), thành tố phụ trong cụm từ.
  • Trình bày khái niệm, đặc trưng hình thức - nội dung và so sánh mối quan hệ ba thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
  • Khái quát lý thuyết về nghĩa (nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng) và cơ chế chuyển nghĩa.
  • Luận giải mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa. Trình bày các quan niệm truyền thống về con số trong văn hóa Việt Nam: tư duy triết lý âm dương (số lẻ là dương: 1 - thiếu dương sinh, 3 - thiếu dương thành, 7 - thái dương thịnh, 9 - lão dương cực thịnh; số chẵn là âm: 2 - thiếu âm sinh, 4 - thiếu âm thành, 6 - thái âm/lão âm, 8 - lão âm cực thịnh, 10 - chung âm); con số trong đời sống tâm linh và không gian thiêng (kiến trúc đền chùa chữ "tam", chùa Một Cột, tục thờ cúng tang lễ 3 ngày, 7 ngày/49 ngày giải vía, 100 ngày tốt khốc, thờ cúng 5 đời); con số trong sinh hoạt đời thường (nhà ở chọn số gian/bậc thang lẻ, kiêng kỵ số ngày đi/về).

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Chương 2 tập trung khảo sát và lượng hóa hoạt động ngữ pháp của con số:

  • Đặc điểm từ loại và hiện tượng chuyển loại: Phần lớn con số giữ nguyên từ loại gốc là số từ (kết hợp với danh từ chỉ số lượng sự vật, thời gian, không gian, đo lường, tuổi tác). Tuy nhiên, do đặc trưng của ngôn ngữ đơn lập, con số có hiện tượng chuyển đổi từ loại:
    • Chuyển loại thành danh từ riêng: Dùng con số để đặt tên người theo thứ tự sinh (anh Hai, chị Bốn, cô Năm...). Hiện tượng này xuất hiện 694 trường hợp trong ca dao (đặc biệt là ca dao Nam Bộ), không xuất hiện trong thành ngữ và tục ngữ do tính chất đúc kết, khái quát của hai thể loại này.
    • Chuyển loại thành tính từ: Biểu thị mức độ phẩm chất, đặc điểm của sự vật khi đi kèm danh từ vật liệu như vàng, bạc, thau (vàng mười, bạc bảy, thau ba).
TT Từ loại của con số Ngữ cảnh sử dụng Thành ngữ (lượt) Tục ngữ (lượt) Ca dao (lượt)
1 Số từ Chỉ đơn vị, thứ tự, số lượng, tuổi tác 719 3.477 5.157
2 Danh từ riêng Tên gọi người (phổ biến ở Nam Bộ) 0 0 694
3 Tính từ Biểu thị mức độ, đặc điểm, phẩm chất 19 128 185
  • Khả năng kết hợp cú pháp:
    • Khảo sát các mô hình kết hợp giữa con số với các thực từ (danh từ, động từ, tính từ) và hư từ.
    • Khảo sát các cấu trúc kết hợp đặc thù giữa con số với con số (kết hợp đẳng lập, sóng đôi, tăng tiến: một chín một mười, ba vuông bảy tròn, năm lần bảy lượt).
  • Chức năng ngữ pháp: Xác định vị trí và vai trò cú pháp của con số khi tham gia cấu tạo cụm từ (làm thành tố phụ chỉ lượng hoặc định ngữ) và khi làm thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ).

Chương 3: Ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Chương 3 phân tích hai bình diện ngữ nghĩa cốt lõi của con số trong ngữ liệu:

  • Nghĩa gốc (nghĩa thực):
    • Con số chỉ thời gian: Xác định cụ thể các ngày, tháng, mùa trong năm phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt (Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba; Mồng năm, mười bốn, hai ba).
    • Con số chỉ tuổi tác: Đúc kết kinh nghiệm sinh học, tâm lý và xã hội theo từng độ tuổi (Gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu; Bảy mươi chưa đui chưa què chớ khoe rằng tốt).
    • Con số chỉ lượng trong lao động, sinh hoạt: Kinh nghiệm tính toán, kích thước vật dụng, quy chuẩn kỹ thuật (Tiểu rộng bốn tấc hai, quan tài bốn thước tám; Đan sề lóng mốt, đan cót lóng hai).
    • Con số chỉ đơn vị đo đếm, tính toán tiền tệ, dung lượng (Hai thưng bằng một đấu; Sầy da quan sáu, chảy máu sáu quan).
  • Nghĩa biểu trưng:
    • Nghĩa biểu trưng của số lẻ: Số 1 (sự khởi đầu, duy nhất, nhỏ bé, cô độc hoặc toàn vẹn: một thân một mình); số 3 (số lượng nhiều, mức độ vững chắc hoặc bất ổn định: vững như kiềng ba chân, ba chìm bảy nổi); số 5, số 7, số 9 (biểu trưng cho sự cực thịnh, trọn vẹn hoặc gian nan: ruột đau chín chiều, chín đụn mười trâu).
    • Nghĩa biểu trưng của số chẵn: Số 2 (quan hệ đôi lứa, song hành); số 4, số 6, số 8, số 10 (biểu trưng cho sự trọn vẹn, đầy đủ, quy mô toàn thể hoặc sức mạnh vật chất: mẹ tròn con vuông, nói chín làm mười).
    • Ý nghĩa biểu trưng của các số lớn: Trăm, ngàn, vạn, triệu, ức (ba vạn sáu ngàn ngày, nghĩa dài trăm năm) biểu thị đại lượng vô biên, thời gian dài lâu hoặc không gian bao la.
    • Ý nghĩa biểu trưng của số thứ tự: Các số nhất, nhì, tam, tứ được sử dụng để xếp hạng giá trị kinh nghiệm hoặc thứ tự ưu tiên (Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống).

Chương 4: Vai trò và đặc trưng văn hóa của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt

Chương 4 nâng cao việc phân tích ngôn ngữ sang bình diện văn hóa học:

  • Vai trò của con số trong tổ chức tác phẩm dân gian:
    • Tạo cấu trúc nhịp điệu và nhạc tính: Tạo sự cân đối, đối ngẫu, ngắt nhịp hài hòa trong thể thơ lục bát và các câu tục ngữ song quan.
    • Xây dựng các biện pháp tu từ nghệ thuật: Điệp từ, tăng tiến, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ (phóng đại).
    • Biểu hiện thái độ, cảm xúc: Bộc lộ tâm trạng nhớ thương, ai oán, châm biếm, phê phán hoặc khẳng định ý chí, đạo lý làm người.
  • Biểu hiện văn hóa của con số:
    • Thể hiện nhận thức về tự nhiên: Thời tiết, mùa vụ, quy luật vũ trụ.
    • Thể hiện nhận thức về xã hội: Quan hệ gia đình, làng xóm, đẳng cấp, chuẩn mực ứng xử nhân sinh.
    • Thể hiện phương thức đo lường, tính toán mộc mạc mang dấu ấn của nền nông nghiệp lúa nước truyền thống.
  • Lý giải cơ sở văn hóa - tư duy của các quan niệm về con số:
    • Ảnh hưởng của tư duy triết học âm dương ngũ hành bản địa kết hợp với yếu tố Dịch học phương Đông.
    • Quá trình tri nhận từ mối quan hệ giữa con số với thế giới tự nhiên và cơ thể con người (tam tài, ngũ tạng, thất khiếu, cửu khiếu).
    • Quy luật liên tưởng ngữ âm và ảnh hưởng của ngôn ngữ trong quá trình hình thành biểu tượng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ vị trí từ loại, đặc tính ngữ pháp của số từ trong tiếng Việt qua nguồn ngữ liệu văn học dân gian.
  • Xác lập khung miêu tả sự chuyển di từ loại của con số (số từ chuyển thành danh từ riêng, tính từ) trong các ngữ cảnh chức năng cụ thể của ngôn ngữ đơn lập.
  • Làm sáng tỏ cơ chế phái sinh ngữ nghĩa từ nghĩa gốc sang nghĩa biểu trưng của các con số, góp phần phát triển lý thuyết ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học tri nhận trong tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thống kê định lượng chi tiết, tin cậy về tần số xuất hiện, mô hình kết hợp và cấu trúc chức năng của con số trong hơn 31.000 đơn vị thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt.
  • Giải mã hệ thống biểu tượng số, góp phần làm rõ bản sắc văn hóa, nếp cảm, nếp nghĩ và tri thức dân gian của người Việt Nam.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ biên soạn giáo trình từ vựng học, ngữ pháp học tiếng Việt, đồng thời hỗ trợ việc giảng dạy, phân tích và cảm thụ tác phẩm văn học dân gian trong hệ thống nhà trường phổ thông và đại học.

Kiến nghị và định hướng ứng dụng

  • Ứng dụng kết quả phân loại và giải mã ngữ nghĩa con số vào công tác biên soạn từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao và các loại từ điển biểu trưng văn hóa Việt Nam.
  • Tích hợp nội dung phân tích đặc trưng văn hóa của ngôn từ vào giảng dạy bộ môn Tiếng Việt và Văn học dân gian để nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi ngữ liệu trong ba thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt (dân tộc Kinh) từ các bộ sưu tập đã xuất bản; chưa mở rộng so sánh đối chiếu liên ngôn ngữ với hệ thống con số trong văn học dân gian của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam hoặc các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu con số sang các thể loại văn học dân gian khác như truyện cổ tích, truyền thuyết, sử thi, câu đố.
    • Nghiên cứu đối chiếu con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt với các ngôn ngữ trong khu vực (tiếng Hán, tiếng Mường, tiếng Tày - Thái) dưới góc độ ngôn ngữ học đối chiếu và loại hình học văn hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngôn ngữ học và Văn hóa học: Cung cấp phương pháp tiếp cận liên ngành (ngôn ngữ - văn hóa), quy trình xử lý thống kê ngữ liệu và khung lý thuyết về ngữ nghĩa học biểu trưng.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng và giáo viên Ngữ văn: Cung cấp nguồn ngữ liệu minh họa chuẩn xác và các luận điểm khoa học để giảng dạy các chuyên đề về từ loại tiếng Việt, ngữ nghĩa học, tu từ học và thi pháp văn học dân gian.
  • Các nhà biên soạn từ điển và nhà nghiên cứu văn hóa dân gian: Sử dụng kết quả thống kê và giải mã nghĩa của các con số để chú giải chính xác các đơn vị thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong các công trình tra cứu.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn ngữ liệu chính được tác giả sử dụng để khảo sát trong luận án gồm những công trình nào?

Tác giả khảo sát 4 công trình tư liệu chính: Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành, 1993 - khảo sát 3.225 thành ngữ); Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập, Nguyễn Xuân Kính chủ biên, 2002 - khảo sát 16.098 câu tục ngữ); Kho tàng ca dao người Việt (2 tập, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, 2002 - khảo sát 12.419 bài ca dao); và sách chuyên khảo Từ vựng chữ số và số lượng (Bùi Hạnh Cẩn, 1997).

2. Tần suất xuất hiện của con số trong ba thể loại thành ngữ, tục ngữ và ca dao có sự khác biệt như thế nào?

Theo thống kê của luận án: trong 3.225 thành ngữ có 464 đơn vị chứa con số (chiếm 14,4%); trong 16.098 câu tục ngữ có 2.164 câu chứa con số (chiếm 13,44%); trong 12.419 bài ca dao có 2.953 bài chứa con số (chiếm 23,8%). Ca dao là thể loại có tỷ lệ xuất hiện con số cao nhất.

3. Luận án chỉ ra hiện tượng con số chuyển đổi thành những từ loại nào trong ngữ cảnh?

Ngoài việc giữ nguyên từ loại là số từ, con số trong ngữ cảnh có thể chuyển loại thành:

  • Danh từ riêng: Dùng làm tên gọi người theo thứ tự sinh (anh Hai, chị Bốn, cô Năm), xuất hiện 694 trường hợp trong ca dao Nam Bộ.
  • Tính từ: Dùng biểu thị mức độ, phẩm chất của sự vật nêu ở danh từ (vàng mười, bạc bảy, thau ba), xuất hiện 19 lượt trong thành ngữ, 128 lượt trong tục ngữ và 185 lượt trong ca dao.

4. Cơ chế biểu trưng của các con số lẻ và số chẵn trong luận án được giải thích dựa trên cơ sở triết lý nào?

Luận án lý giải cơ chế biểu trưng dựa trên triết lý âm dương truyền thống: các số lẻ thuộc dương (1, 3, 5, 7, 9 biểu trưng cho sự sinh sôi, vận động, phát triển, thái dương hoặc lão dương); các số chẵn thuộc âm (2, 4, 6, 8, 10 biểu trưng cho trạng thái tĩnh, sự trọn vẹn, đầy đủ hoặc giới hạn âm khí). Các quan niệm này chi phối trực tiếp đến cách dùng số trong kiến trúc, phong tục thờ cúng, tang lễ và sinh hoạt hàng ngày của người Việt.


Kết luận

Luận án của tác giả Trần Thị Lam Thủy là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp thống kê định lượng trên khối tư liệu lớn với phương pháp miêu tả và phân tích ngữ nghĩa, tác giả đã làm rõ quy luật hoạt động ngữ pháp, hiện tượng chuyển loại và các tầng nghĩa biểu trưng của con số. Công trình khẳng định con số không chỉ là phương tiện định lượng thuần túy mà còn là một biểu tượng nghệ thuật phản ánh sâu sắc mô hình tư duy, triết lý âm dương và bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.