CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu nh nghiên cứu hư từ chỉ tần suất về đặc điểm ngữ nghĩa- ngữ 1. Tình hì dụng ở tiếng Việt Nghiên cứu trong nước, sử dụng ngôn ngữ làtiếng Việt cómột số công trì nh nghiên cứu tiêu biểu như: Hoàng Phêvới công trì nh nghiên cứu “Phân tí ch ngữ nghĩa” (1975) bàn về nghĩa từ được giải thích trên cơ sở phân tí ch ngữ nghĩa, theo tác giả phân tích ngữ nghĩa toàn diện phải được tiến hành cả ở bì nh diện chức năng, bì nh diện sử dụng, lời nói trên cấp độ lời, cấu trúc ngữ nghĩa của lời là một cấu trúc nhiều tầng, gồm có tiền giả định, hiển ngôn, hàm ngôn; trong hàm ngôn lại cóhàm ývàngụ ý. Đồng tác giả Hoàng Phêvới “Tiền giả định vàhàm ý trong ngữ nghĩa của từ” (1975) bàn về định nghĩa tiền giả định vàhàm ý trong ngữ nghĩa của từ, tiền giả định làthông tin không cógiátrị thông báo chí nh thức, trong những điều kiện thông thường thìnhững thông báo ở câu trước dễ dàng trở thành TGĐ của câu sau.
Vàhàm ýtrong ngữ nghĩa của từ là hàm ý được suy ra từ nội dung ngữ nghĩa tường minh của phát ngôn. Tuy tác giả Hoàng Phê đã có những công trình nghiên cứu về nghĩa ngữ dụng, nhưng trong các nghiên cứu của tác giả không triển khai cụ thể các đặc điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng của các hư từ chỉ tần suất. Nguyễn Anh Quế với giáo trình “Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” (1988) đã tiến hành khảo sát vàmiêu tả các đặc điểm về ngữ nghĩa và ngữ pháp của từng nhóm hư từ vàmột số hư từ cụ thể, song chưa đi sâu vào nghiên cứu hư từ chỉ tần suất về bình diện ngữ dụng; Đỗ Phương Lâm với Luận án tiến sĩ “Đặc điểm hư từ Hán Việt trong tiếng Việt” (2014) tiến hành làm sáng tỏ những vấn đề về đặc điểm từ vựng vàngữ pháp tiếng Việt, luận án đưa ra cái nhìn có tính toàn diện về líthuyết hư từ tiếng Việt và trình bày quan điểm về khái niệm hư từ vàcác tiểu loại hư từ và hư từ Hán Việt, tác giả đã tiến hành phân loại các hư từ chỉ tần suất thành các nhóm nhỏ, nhưng chưa nghiên cứu vào đặc điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng của từng từ. Lê Đông có các bài báo nghiên cứu về hư từ tiếng Việt như: “Ngữ nghĩa - ngữ dụng các hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ” (1991) bàn về chức năng của hư từ ở bình diện ngữ nghĩa là đánh dấu các vai nghĩa, thể hiện các 7 ý nghĩa tình thái và ở bình diện dụng học chỉ nghiên cứu cấu trúc đề - thuyết, đánh dấu phần tin mới trong cấu trúc thông tin của câu.
Tác giả chỉ khai thác ở khía cạnh chung của các hư từ, màkhông liệt kê các hư từ chỉ tần suất để phân tích ý nghĩa ngữ pháp, chức vụ cúpháp hay khả năng kết hợp về phương diện ngữ nghĩa và tiền giả định về phương diện ngữ dụng; “Ngữ nghĩa của các hư từ: siêu ngôn ngữ và các hư từ tiếng Việt” (1991) bàn về cách sử dụng hư từ Tiếng Việt, diễn đạt phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng trong giao tiếp ngôn ngữ; “Vai trò của tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi” (1994) bàn về vai trò của tiền giả định trong cấu trúc thông tin của câu hỏi, tiền giả định ngữ nghĩa - ngữ dụng phản ánh rõ đí ch ngữ dụng của câu hỏi vàtrạng thái tinh thần của người hỏi: cái chưa biết muốn được giải đáp vàcái nghi ngờ cần được xác định, song ở các công trì nh nghiên cứu của tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu tiền giả định của từng hư từ chỉ tần suất. Nguyễn Thiện Giáp với “Ngữ cảnh vàgiao tiếp” (1999) làgiáo trì nh bàn về định nghĩa, vai trò và các nhân tố của ngữ cảnh vàgiao tiếp. Cụ thể bàn về ngữ cảnh làbối cảnh ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, đồng thời người nghe (người đọc) dựa vào bối cảnh đómàlĩnh hội được lời nói, câu văn. Nhân vật giao tiếp (người nói – người nghe; người viết – người đọc).
Mỗi nhân vật giao tiếp cónhững đặc điểm về nhiều mặt: lứa tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, cá tính, địa vị xãhội, quan hệ xãhội, địa phương sinh sống, văn hoá,… những đặc điểm này luôn chi phối lời nói cánhân vàchi phối việc lĩnh hội lời nói của người nói. Đồng tác giả Nguyễn Thiện Giáp với “Dụng Học Việt ngữ” (2007) bàn rõvề ngữ dụng học bao hàm cả lý thuyết hành vi ngôn từ, hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói vàcả những cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ trong triết học, xã hội học vànhân học. “Dụng Học Việt ngữ” nghiên cứu về cách làm sao nghĩa của từ được chuyển tải qua không chỉ bằng cấu trúc vàhiểu biết ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng, v.) của người nói màcòn qua cả ngữ cảnh của phát ngôn, dụng ý được suy ra liên quan tới chủ đề. Ngoài ra, còn cómột số tác giả vàtác phẩm tiêu biểu bàn trực tiếp về hư từ tiếng Việt là: Gabriel Aubaret với Grammaire de la langue annamite, Pais, (1864); Trương Vĩnh Ký với Grammaire de la langue annamite, Sài Gòn, (1883); Trần Trọng Kim, Nguyễn Lân, Phan Khôi, Bùi Đức Tịnh, Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, I.Panfilov, Lekomcev, Glebova vàv.
8 Hay, khi cụ thể bàn đến ngữ nghĩa, các nhàngôn ngữ học thường nghĩ ngay đến ý nghĩa từ vựng, xét thực từ về ý nghĩa từ vựng, xét hư từ về ý nghĩa ngữ pháp. Vìvậy, không chỉ từ vựng học màngay cả ngữ pháp học cũng quan tâm đến ý nghĩa. Theo “Ngôn ngữ học lýthuyết” của Nguyễn Thiện Giáp (2020), ngữ nghĩa học làmột ngành trong ngôn ngữ học phân tích ý nghĩa của các từ trong ngôn ngữ. Nó chỉ xử lý văn bản và phân tích ý nghĩa của các từ vàcách chúng được sử dụng để tạo thành các ngữ cảnh có nghĩa.
Việc nghiên cứu ngữ nghĩa không xem xét ngữ cảnh; nó chỉ quan tâm đến ngữ pháp vàtừ vựng và ý nghĩa khái niệm của một từ. Như vậy, có thể nói ngữ nghĩa học chỉ phân tích ý nghĩa của biểu thức cụ thể đó theo một nghĩa rất chung chung. Ngữ nghĩa học cóphạm vi hẹp vìnóchỉ đề cập đến ý nghĩa. Ngược lại, cũng theo sách này, ngữ dụng học làmột lĩnh vực rộng lớn phân tích ngữ cảnh ngoài ngữ pháp, từ vựng và ý nghĩa khái niệm.
Thay vìkiểm tra ý nghĩa của biểu thức, lĩnh vực này nghiên cứu ý nghĩa của người nói khi sử dụng một từ hoặc cách diễn đạt nhất định. Họ xem xét các yếu tố khác nhau xung quanh câu nói như ý nghĩa dự định của người nói, các yếu tố ngữ cảnh vàsuy luận của người nghe để giải thí ch câu nói. Nói một cách đơn giản, ngữ dụng xử lýnhững gì được ngụ ýtrong một phát ngôn. Theo Đỗ Hữu Châu (2003), Ngữ dụng học làmột lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học, nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ vàcác sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoàn cảnh giao tiếp vàvới các hoạt động giao tiếp, thực sự của ngôn ngữ trong xãhội.
Theo định nghĩa này thì các nhân tố ngữ dụng làbộ phận không thể tách rời trong cấu trúc hình thức vànội dung của các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ. Sự hoạt động của ngôn ngữ trong giao tiếp làmột bộ phận của ngữ dụng học. Vìvậy, nghĩa ngữ dụng làthành phần ý nghĩa liên quan đến việc sử dụng từ trong các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ. Trong các hoạt động giao tiếp cụ thể, ý nghĩa của từ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ, vídụ như: mối quan hệ giữa người nói và người nghe, hoàn cảnh giao tiếp, các quy định của xãhội về ứng xử ngôn ngữ, các quan niệm về giá trị văn hóa,v.
Ý nghĩa ngữ dụng là thành phần ý nghĩa, mà nhờ đó từ có thể biểu thị được thái độ, tì nh cảm của người nói vàtác động đến thái độ, tình cảm của người nghe. Nói chung, ý nghĩa ngữ dụng của từ thường xuất hiện trong lời nói. Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể sẽ làm nổi rõthành phần ý nghĩa này của từ. Vìvậy, muốn xác định ý nghĩa ngữ dụng của từ phải căn cứ vào các tình huống giao tiếp ngôn ngữ cụ thể, tức làdựa vào ngữ cảnh hoặc chu cảnh vật lí, trong đó từ được sử 9 dụng.
Khi nghiên cứu ngữ dụng, các nhàngôn ngữ học đặc biệt quan tâm đến các khái niệm có trong một phát ngôn như khái niệm hiển ngôn, hàm ngôn, hàm ý, tiền giả định, trong hàm ýcòn cóhàm ýhội thoại vàhàm ýngôn ngữ. trong tiền giả định còn gắn liền với khái niệm Logich. Theo Nguyễn Đức Dân (1996, tr.193- 194), nghĩa đầy đủ của một phát ngôn sẽ theo sơ đồ hình 1.1 sau: Hiển ngôn Nghĩa ngữ dụng Tiền giả định Hàm ngôn Hàm ý ngôn ngữ Hàm ý Hàm ý hội thoại Hình 1.1: Nghĩa ngữ dụng đầy đủ của một phát ngôn Trong đó, hiển ngôn vàhàm ngôn làhai khái niệm cơ bản trong ngữ nghĩa học hiện đại được nhiều tác giả nước ngoài đề cập đến. Ở Việt Nam, tác giả Hoàng Phê(1975) là người đầu tiên giới thiệu khái niệm tiền giả định (TGĐ) và gọi đó là hàm nghĩa của từ và phân biệt với nghĩa chính thức của từ.
Tương tự, câu (/lời) gắn với những ngữ cảnh cụ thể nên mỗi câu (/mỗi lời) đều có ý chính thức, được gọi làhàm nghĩa vàhàm ý. Những năm tiếp theo, khái niệm TGĐ, hiển ngôn, hàm ngôn được các tác giả khác trình bày, Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Đỗ Hữu Châu (2003, 2005), Cao Xuân Hạo (1999), Nguyễn Thiện Giáp (2020),v. Cóhai loại hàm ngôn - những thông tin không phải làhiển ngôn cótrong lời nói: vô hướng vàhữu hướng. Hàm ngôn vô hướng lànhững thông tin ngoài chủ đích của người nói, trong đó có tiền giả định, hàm ngôn hữu hướng là những thông tin người nói chủ ý tạo ra và được gọi làhàm ý.
Loại hàm ý độc lập với ngữ cảnh được gọi làhàm ý quy ước (conventional Implicature), cũng được gọi làhàm ý ngôn ngữ. Loại hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh, phụ thuộc vào tì nh huống dùng được gọi hàm ýhội thoại hay còn gọi làhàm ýngữ dụng. Các khái niệm được định nghĩa cụ thể như sau: a) Hiển ngôn Nghĩa hiển ngôn làphần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu. Nghĩa hiển ngôn dễ nhận ra bởi nóthể hiện qua nguyên văn câu nói, người nghe không phải suy diễn, ai cũng 10 hiểu như vậy.
Nghĩa hiển ngôn hay còn gọi lànghĩa đen: Là nghĩa hiện hiện trên câu văn, toát lên từ câu chữ, nhì n vào làthấy ngay, hiểu ngay.