CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Các nghiên cứu về câu gây khiến đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm. Trong các nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, câu gây khiến được gọi tên bằng những thuật ngữ khác nhau: động từ gây khiến (Nguyễn Kim Thản 1977, Nguyễn Hoàng Trung 2014), kết cấu gây khiến – kết quả (Nguyễn Thị Quy 1995, Nguyễn Thị Thu Hương 2010), câu chứa chủ ngữ nguyên nhân (Diệp Quang Ban 2004). Trong tiếng Nhật, câu gây khiến được nghiên cứu theo quan hệ nguyên nhân – kết quả (Masayoshi Shibatani 1976, Sakata (1980), Temamura (1982), Kenichi Takami (2009), Nita (2009), mỗi công trình đều có cách tiếp cận và đi sâu xem xét vấn đề riêng. Ở trong nước, một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp có đề cập đến cấu trúc gây khiến - kết quả như Nguyễn Kim Thản (1977), Cao Xuân Hạo (2004), Nguyễn Thị Quy (1995),… Công trình của Nguyễn Kim Thản (1977) có thể được coi là công trình đầu tiên đề cập nhiều đến động từ gây khiến - kết quả trong tiếng Việt.
Theo Nguyễn Kim Thản, trong tiếng Việt động từ gây khiến - kết quả thuộc nhóm động từ ngoại hướng, được dùng để biểu thị những hoạt động thúc đẩy, cho phép, giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những hoạt động khác. Đặc điểm ngữ pháp của động từ gây khiến - kết quả là: S1 V1 S2 V2. Tuy nhiên, Nguyễn Kim Thản không phân biệt động từ gây khiến - kết quả với động từ sai khiến (cầu khiến). Nguyễn Thị Quy (1995) cho rằng cần phải phân biệt cấu trúc gây khiến - kết quả với cấu trúc cầu khiến.
Cấu trúc cầu khiến có cấu tạo cú pháp và nghĩa biểu hiện gồm vị tố là động từ nói năng chỉ sự sai khiến, chủ ngữ chỉ một thực thể có năng lực điều khiển thực thể khác, tân ngữ chỉ đích thể của sự sai khiến và là thực thể nhận lệnh, đồng thời cũng là động thể/hành thể trong quan hệ với nội dung lệnh, và một bổ ngữ chỉ nội dung lệnh. Diệp Quang Ban (2004) gọi cấu trúc gây khiến - kết quả là “Câu chứa chủ ngữ nguyên nhân”. Ông cho rằng trong tiếng Việt, câu chứa chủ ngữ nguyên nhân là kiểu câu khá phức tạp cả về phương diện cấu trúc cú pháp lẫn về phương diện nghĩa biểu hiện. Tác giả đã trình bày rất chi tiết và cụ thể về cách phân loại kiểu câu có chủ ngữ chỉ nguyên nhân.
4 Cao Xuân Hạo (2004) phân biệt kết cấu gây khiến và kết cấu cầu khiến (mà tác giả gọi là điều khiển). Cao Xuân Hạo cho rằng: “Câu gây khiến biểu hiện những hành động chuyển tác, gây nên những quá trình hiện thực, trong khi những hành động ngôn từ có tính chất điều khiển có thể hoàn toàn không có lực xuyên ngôn”. Tuy nhiên, trong khi phân biệt kết cấu gây khiến và kết cấu điều khiển, tác giả chưa phân biệt được kết cấu gây khiến và các kết cấu chuyển tác khác. Ở Nhật Bản, các nhà ngôn ngữ Nhật đã có nhiều sự tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá về cấu trúc gây khiến – kết quả.
Đặc biệt là nhà nghiên cứu Masayoshi Shibatani – người đã nghiên cứu về cấu trúc nguyên nhân – kết quả trong một thời gian dài, công trình nghiên cứu “The grammar of causative constructions: a conspectus” (1976) của ông đã đưa ra định nghĩa về câu gây khiến. Đối với tiếng Nhật, ông đã xem xét động từ bằng cách xem xét quan hệ nhân quả như một công cụ để phân loại chúng. Ông phân loại động từ thành hai nhóm là động từ nguyên nhân và động từ không nguyên nhân và tiếp tục chia động từ nguyên nhân thành các nhóm nhỏ hơn. Shitatani đã phân loại thành câu nguyên nhân dựa vào hình thái của động từ và câu nguyên nhân dựa vào từ ngữ.
Theo nhà ngôn ngữ Sakata (1980), hình thức biểu thị 「せる・させる」 [seru/saseru] được gọi là hình thức thể hiện nguyên nhân. Về cơ bản thì nó thể hiện sự ra lệnh của chủ thể hoặc yêu cầu thực hiện hành động của chủ thể với đối tượng khác hoặc là sự hướng dẫn, tuy nhiên, ý nghĩa của hình thức này không chỉ giới hạn ngang đó. Ông nói rằng nó còn bao gồm các sự kiện được coi là kết quả với sự tham gia trực tiếp của chủ thể và các sự kiện là kết quả của một đối tượng khác mặc dù chủ thể không trực tiếp tham gia và chia nó thành nhiều cấp bậc. Temamura (1982) dựa vào các quan điểm và thảo luận đánh giá khác nhau liên quan đến biểu hiện nguyên nhân kết quả để hiểu được hoàn cảnh và bản chất của cú pháp nguyên nhân – kết quả.
Ông giải thích các đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa và đặc điểm hình thái của động từ. Kenichi Takami (2009) lại phân chia ý nghĩa của câu gây khiến, đó là: cưỡng chế, thuyết phục, sự hướng dẫn dựa vào mối quan hệ, yêu cầu – được phép, nguyên nhân, trách nhiệm. Nita (2009) cho rằng có ba loại nguyên nhân trong cú pháp nguyên nhân – kết quả, đó là nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân trong đó tác nhân có liên quan trực tiếp và nguyên nhân mà tác nhân không tham gia trực tiếp. 5 Ngoài ra cũng có một số các bài báo, luận án nghiên cứu về câu gây khiến như 日本語の「使役」をめぐってⅠ : 問題点の指摘と整 理を中心に – Miyake, Tomohiro (2018) (Về “Sai khiến” trong tiếng Nhật: Tập trung vào việc chỉ ra các vấn đề và sắp xếp), 日本語とベトナム語における使役表現 の対照研究 – Nguyễn Thị Ái Tiên (2014) ( Nghiên cứu so sánh cách diễn đạt “Sai khiến” trong tiếng Nhật và tiếng Việt).
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh: Anna Wierzbicka (1994), Goddard (1997, 1998, 2005), William Frawley (1992),. Anna Wierzbicka (1994), trong công trình “The Semantics of Grammar” cũng đã dành gần 20 trang để viết về cấu trúc gây khiến - kết quả trong tiếng Anh và so sánh cấu trúc này trong tiếng Anh với những ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Hindi, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Nga. Trong công trình “Semantic Analysis. A Practical Introduction” (Phân tích ngữ nghĩa.
Dẫn luận thực hành) Goddard bàn về vai trò của từ because (bởi vì) trong việc giải thích cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông còn đưa ra cách giải thích cho cấu trúc gây khiến - kết quả với những động từ make (làm), have (bảo), break (vỡ/ làm vỡ), clean (lau) và kill (giết chết). William Frawly (1992) trong công trình “Linguistic Semantics” (Ngữ nghĩa học) lại đi sâu về cấu trúc ngữ nghĩa quan hệ của cấu trúc gây khiến - kết quả. Ông đưa ra cách nhìn lôgíc về cấu trúc gây khiến - kết quả giữa hai sự kiện; hai đặc tính của gây khiến - kết quả - sự trực tiếp của nguyên nhân và mức độ tham gia của các thành phần.
Việc nghiên cứu câu gây khiến và đối chiếu câu gây khiến trong tiếng Việt và tiếng Anh, tiếng Nhật đã được thực hiện ít nhiều. Tuy nhiên, trong mỗi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về định nghĩa và cách thể hiện. Trong giới hạn tìm hiểu, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào có thực hiện việc đối chiếu các đặc điểm ngữ nghĩa của câu gây khiến trong tiếng Việt và tiếng Nhật, nghiên cứu và làm sáng tỏ những nét giống và khác về cấu trúc ngữ nghĩa và các đặc điểm ngữ nghĩa của vai nghĩa và phương thức biểu hiển trong câu gây khiến của tiếng Việt và tiếng Nhật là một vấn đề chưa có tác giả nào nghiên cứu cụ thể. Luận văn nghiên cứu đối chiếu câu gây khiến trong tiếng Việt và tiếng Nhật dựa trên quan điểm của nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo về câu gây khiến theo ngữ pháp chức năng.1 Lý thuyết về câu 1.1 Câu theo quan điểm truyền thống Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được sử dụng khi nói đến một đơn vị ngữ pháp lớn nhất mà đơn vị ngữ pháp ấy được tạo thành từ các đơn vị nhỏ hơn nó như cụm từ, từ, hình vị, là đơn vị nằm ở bậc cao nhất của tổ chức ngữ pháp.
Theo ngôn ngữ học truyền thống, khi phân tích, nghiên cứu câu thì câu chỉ được chú trọng về mặt cú pháp và hình thức chứ không chú trọng đến hai bình diện rất quan trọng khác, đó là bình diện nghĩa và dụng pháp của câu. Câu, nói chung gồm câu đơn và câu ghép được định nghĩa ngắn gọn. Trần Ngọc Thêm (1997,167) định nghĩa: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất độc lập”. Bystrov, Nguyễn Tài Cẩn, Stankevich (1983,58) đã đưa ra bốn tiêu chí xác định câu tiếng Việt: “Câu là một đơn vị ngôn ngữ biểu thị một tư tưởng tương đối trọn vẹn; câu không chỉ phản ánh hiện thực mà còn chứa đựng sự đánh giá hiện thực về phía người nói nữa; câu có những đặc trưng bên ngoài là các tiểu từ tình thái dứt câu và chỗ ngắt câu; câu có những đặc trưng bên trong là cấu trúc của nó”.2 Câu theo ngữ pháp chức năng Ngữ pháp chức năng được định nghĩa theo Cao Xuân Hạo (2006, 11) như sau:“Ngữ pháp chức năng là một hệ lý thuyết và hệ phương pháp được xây dựng trên quan niệm coi ngôn ngữ là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người và người”.
Với ngôn ngữ học truyền thống, khi bàn về nghĩa, người chỉ chỉ nói đến nghĩa của từ chứ không bàn về nghĩa của câu. Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, câu được định nghĩa như sau: “… Câu là sản phẩm của ba quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời. Nó vừa là một sự trao đổi có tính chất tác động lẫn nhau, vừa là một thông điệp. Cũng theo ngữ pháp chức năng, câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ mà đơn vị nhỏ nhất ấy được đặt trên ba bình diện khác nhau: bình diện nghĩa học - bình diện cú pháp - bình diện dụng pháp.
Bình diện nghĩa học là bình diện của “sự tình” được biểu thị và những “vai trò” tham gia cái sự tình ấy. Ở đây ta sẽ có những tham tố của sự tình gồm diễn tố và chu tố. Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức 7 thuần túy. Bình diện dụng pháp là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, vào những mục đích cụ thể.
Theo Cao Xuân Hạo (2006, 20), mô hình ba bình diện được kế thừa từ lý thuyết ký hiệu học của Ch.