Mở đầu, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa của việc nghiên cứu và bố cục của đề tài. Chương 2, Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, cung cấp một cách tóm tắt cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu cho vấn đề nghiên cứu. Chương 3, Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa từ xưng hô trong hội thoại của tiếng Việt và tiếng Nhật, trình bày được các đặc điểm về phương thức kết cấu và hoạt động của từ xưng hô trong bối cảnh cảnh gia đình và môi trường làm việc công sở của tiếng Việt và tiếng Nhật, tìm ra được sự những nét tương đồng và dị biệt. Chương 4, Kiến nghị và đề xuất trong giao tiếp, tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra một số gợi ý cho trong việc sử dụng từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Nhật.
5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu từ xưng hô trên thế giới Từ xưng hô đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới nghiên cứu vào nữa sau thế kỷ XX đến nay, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như Studies in Vietnamese Grammar (Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt) hay The translation strategies on address term in love (Các chiến lược dịch thuật từ xưng hô trong tình yêu). Công trình nghiên cứu Studies in Vietnamese Grammar (Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt) của Emeneau, M.
(1951) chủ yếu tập trung nói về từ xưng hô và nhóm từ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ. Ông cho rằng đa số các danh từ dùng làm từ xưng hô đều trùng làm một với những danh từ chỉ người bà con cùng huyết thống. Theo hướng nghiên cứu dịch thuật, trong bài nghiên cứu The translation strategies on address term in love (Các chiến lược dịch thuật từ xưng hô trong tình yêu) của Syahron, L. (2022), các tác giả đã chỉ ra được chiến lược dịch mà người dịch áp dụng khi dịch các cụm từ xưng hô trong phim Love Rosie, đó chính là dịch theo nghĩa đen, vay mượn, dịch tương đương,.dựa trên lý thuyết của Vinay và Dalbemet.
Đồng thời, chỉ ra các cụm từ xưng hô sử dụng trong phim bao gồm 6 cụm từ xưng hô dưới dạng đại từ, 17 cụm từ xưng hô ở dạng họ hàng, 10 cụm từ xưng hô ở dạng chức danh, 22 cụm từ xưng hô ở dạng tên và 10 cụm từ xưng hô ở dạng thân tộc. Có thể thấy từ xưng hô đã trở thành lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm từ lâu và được nghiên cứu sâu theo nhiều hướng khác nhau. Tình hình nghiên cứu từ xưng hô ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu rất sớm, cách đây hơn 350 năm kể từ những trang viết của 6 Alexandre de Rhodes. Năm 1651 trong cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latinh, Alexandre de Rhodes đã dành một vài trang để miêu tả các từ xưng hô trong tiếng Việt, các đại từ nhân xưng cũng như các danh từ thân tộc có chức năng xưng hô như: ông, bà, bác, cô, cậu, chú.
đều được ông nhắc đến nhưng còn sơ lược. Sau này, nhiều nhà cứu về ngôn ngữ nổi tiếng đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu có giá trị tiêu biểu như Nguyễn Văn Chiến với nghiên cứu Từ xưng hô trong tiếng Việt trong Việt Nam, Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa (1993) đã đi sâu nghiên cứu việc sử dụng từ xưng hô trong gia đình và nhận thấy trong gia đình, việc sử dụng từ xưng hô phải tuân theo thứ bậc và các cặp từ xưng hô phải được tuân thủ. Dùng rộng ra trong xã hội, quy tắc này không phải lúc nào cũng chặt chẽ nhưng quy tắc về xưng hô khiêm tốn và tôn trọng người khác thì lúc nào cũng phải được tôn trọng. Bàn về từ xưng hô, tác giả Nguyễn Kim Thản trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt (1997) có nhận định rằng việc sử dụng danh từ thân tộc cũng như các tính từ chỉ địa điểm như đại từ nhân xưng là một trong những đặc điểm của tiếng Việt so với các ngôn ngữ khác.
Ngoài ra có thể kể tên một vài tác giả với những công trình nghiên cứu đi theo nhiều hướng khác nhau như: Nghiên cứu theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng giao tiếp: Bùi Minh Yến với hàng loạt các bài viết trên Tạp chí ngôn ngữ như: Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt (1990); Xưng hô giữa anh chị và em trong gia đình người Việt (1993),. Nghiên cứu theo hướng tiếp cận dân tộc học: Nguyễn Văn Chiến với bài nghiên cứu Từ xưng hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp) (1993),. Nhiều tác giả còn mở rộng theo hướng nghiên cứu từ xưng hô trong sự so sánh với các ngôn ngữ khác như: So sánh hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt và trong tiếng Pháp của Nguyễn Vân Dung (2005), So sánh nghi thức giao tiếp tiếng Nhật và tiếng Việt (qua từ ngữ xưng hô) của Hoàng Anh Thi (2001), Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt của 7 Phạm Ngọc Hàm (2004),.các tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống đối chiếu liên ngữ để làm sáng tỏ nét tương đồng và dị biệt về hệ thống từ xưng hô giữa các ngôn ngữ. Có thể thấy, trong các công trình đề cập đến từ xưng hô nhiều vấn đề về cách xưng hô và các loại từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt.
đã được làm sáng tỏ. Tình hình nghiên cứu từ xưng hô trong sự so sánh, đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Nhật Nói về từ xưng hô trong sự so sánh, đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Nhật không thể không nhắc tới tác giả Hoàng Anh Thi với bài nghiên cứu So sánh nghi thức giao tiếp tiếng Nhật và tiếng Việt (qua từ ngữ xưng hô). Qua bài nghiên cứu tác giả đã khảo sát từ ngữ xưng hô và hoạt động của chúng trong hai ngôn ngữ Nhật Việt nhằm phát hiện những tương đồng và khác biệt trong cấu trúc hệ thống và trong nguyên lí hoạt động của các phương tiện xưng hô của hai ngôn ngữ này. Tác giả đã phát hiện và lý giải các tương đồng và khác biệt đó dựa trên văn hóa, xã hội, tâm lý của hai dân tộc.
Kế thừa những nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Thi, tác giả Dương Văn Bình đã có bài nghiên cứu Bản chất xưng hô trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại. Tác giả đã giới thiệu một cách tổng quát nhất về bản chất, mấu chốt của vấn đề xưng hô cũng như những điểm tương đồng và dị biệt mang tính tiêu biểu trong cách thức sử dụng từ xưng hô giữa ngôn ngữ Nhật - Việt. Từ đó làm tiền đề để tiếp tục so sánh đối chiếu phép lịch sự giữa hai ngôn ngữ và áp dụng vào thực tiễn giảng dạy tiếng Việt cho người Nhật và ngược lại. Có thể nói vấn đề nghiên cứu về từ xưng hô nói chung không còn quá xa lạ trong giới ngôn ngữ học nhưng xét về nghiên cứu từ xưng hô trong sự so sánh Việt - Nhật nói riêng thì lại là lĩnh vực còn ít được quan tâm nghiên cứu.
Vì vậy kết quả nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học đi trước, những vấn đề liên quan đến từ xưng hô đã được làm sáng tỏ chính là cơ sở lý luận vững chắc giúp chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu đối chiếu từ ngữ xưng hô trong các đoạn hội thoại Việt - Nhật trong bối cảnh gia đình và trong môi trường làm việc công sở. Khái niệm về xưng hô Thế nào là xưng hô? Xưng hô là một bộ phận của lời nói, là yếu tố không thể thiếu được khi chúng ta nói chuyện trực tiếp với nhau. Xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác, biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy. Chẳng hạn, gọi anh, xưng tôi.
Hô là gọi người nói chuyện với mình là gì đó, biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy. Như vậy xưng hô là “tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau” (Phê, 2018, p. Đặc điểm của xưng hô là đòi hỏi phải có mặt người nói và người nghe (người cùng nói chuyện với mình). Xưng hô khác với hô gọi.
Hô gọi có chức năng chủ yếu là phát ra từ ngữ nào đó hướng vào người nghe nhằm làm cho nghe biết rằng người hô gọi muốn giao tiếp với anh ta. Do đó, hô gọi thường chỉ diễn ra một lần trong cuộc nói chuyện, trừ trường hợp người nghe không chú ý vào câu chuyện thì lời hô gọi mới được lặp lại để "lôi kéo" người nghe trở lại với câu chuyện đang còn tiếp diễn. Cho nên, hô gọi là hành động chỉ của người nói. Ví dụ: - Này Tiến, cậu vẫn nghe mình nói đấy chứ? Trái lại, xưng hô là hành động diễn ra thường xuyên, liên tục trong khi nói chuyện và là lời của cả người nói lẫn người nghe.
Khi người nói lựa chọn từ ngữ nào đó để xưng hô với người cùng đối thoại thì người nói đã xác định và đồng thời cũng bị lệ thuộc vào cái khung quan hệ giữa mình và người đối thoại do chính từ ngữ xưng hô mang lại. Khung quan hệ mà từ ngữ xưng hô mang lại có thể: tao - mày, anh - em, chị - em, bác - cháu, cha - con, ông - cháu, bà - cháu,. Việc lựa chọn từ nào trong hệ thống từ xưng hô khi giao tiếp có thể khiến cho người đối thoại đồng tình hay phản đối với lối xưng hô ấy - chẳng hạn như trong trường hợp mà chúng ta đang đặt ra ở trên. Khái niệm và lý thuyết sử dụng từ xưng hô Tác giả Nguyễn Thị Trung Thành (2007) đã đưa ra nhận định “Từ xưng hô là 9 toàn bộ những đơn vị từ vựng để người nói tự xưng, để gọi người giao tiếp với mình và để chỉ người thứ ba vắng mặt trong cuộc giao tiếp.
Còn đại từ xưng hô là một từ loại, hay chính xác hơn là một bộ phận của từ loại đại từ được dùng để xưng hô” (Nguyễn Thị Trung Thành, Cần phân biệt từ xưng hô và đại từ xưng hô, 2007, tr.