Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí thuyết xiii Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Mô tả đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của câu tác động trong tiếng Việt và tiếng Nhật Chương 4.
Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của câu tác động trong tiếng Việt và tiếng Nhật Chương 5. Đối chiếu đặc điểm ngữ dụng của câu tác động trong tiếng Việt và tiếng Nhật xiv CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở nước ngoài, có hai nhà nghiên cứu ngữ pháp chức năng nổi tiếng, những người đặt nền tảng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ theo hệ thống ngữ pháp chức năng, là Simon Cornelis Dik (người Hà Lan) và Micheal Halliday (người Anh). Hai công trình nghiên cứu nổi tiếng của họ là: S.Điểm nổi trội của công trình này là tác giả đã trình bày lý thuyết về vị ngữ hạt nhân và vị ngữ mở rộng trong ngữ pháp chức năng. K Halliday (1994), “An introduction to functional grammar” (Dẫn luận ngữ pháp chức năng), về sau được Hoàng Văn Vân dịch sang tiếng Việt và xuất bản vào năm 2001.
Halliday qua công trình này đã giới thiệu về ba “siêu chức năng” của ngôn ngữ là nghĩa ý niệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản. Ông cũng đã đưa ra lý thuyết về cấu trúc tham thể của câu tiếng Anh trong nghĩa văn bản. Các công trình nghiên cứu của hai tác giả trên đưa ra một đường hướng nghiên cứu mới là nghiên cứu ngôn ngữ trên cả ba bình diện cú pháp, nghĩa học và dụng học. Ở trong nước, các nhà Việt ngữ học cũng chuyển dần từ nghiên cứu ngôn ngữ theo truyền thống chỉ tập trung vào hình thái cú pháp sang xu hướng mới là nghiên cứu ngữ pháp chức năng từ những năm cuối thế kỷ trước đến những năm đầu thế kỷ XXI.
Các nhà nghiên cứu nổi tiếng Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Vân đã có các công trình nghiên cứu được xuất bản thành sách, đưa khái niệm ngữ pháp chức năng vào ngôn ngữ học ở Việt Nam. Trước hết là công trình nghiên cứu của Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (2001), “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, câu trong tiếng Việt”. Công trình này nghiên cứu và phân loại câu tiếng Việt theo cấu trúc Đề - Thuyết, giới thiệu về vị trí của câu trong ngôn bản. Ông cũng đưa ra khái niệm nghĩa của câu trong tiếng Việt và phân loại câu theo nghĩa biểu hiện.
Ngoài ra, ông còn phân loại và giới thiệu các câu tiếng Việt theo hành động ngôn trung. Về sau, khắc phục những thiếu sót của công trình trước, “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” của Cao Xuân Hạo (2004) được phát hành. Công trình gồm hai phần, phần thứ nhất là Dẫn luận, mục đích cung cấp thông tin về tình hình chung của trào lưu ngữ 1 pháp chức năng hiện nay; phần thứ hai tập trung vào cấu trúc và nghĩa của câu trong tiếng Việt. Công trình này có nhiều quan điểm tương đồng với S.
Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu của Diệp Quang Ban (2004), “Ngữ pháp Việt Nam phần câu”. Điểm mới của công trình này là xem xét cấu trúc câu theo quan điểm lấy vị tố làm yếu tố chính của câu, không xem xét cấu trúc câu theo quan điểm cụm từ. Ông cũng xem xét các chức năng của câu theo các các kiểu cấu trúc chức năng mà trong nghiên cứu của M. Hoàng Văn Vân (2005) có công trình “Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống”.
Ông đã thực hiện công trình này dưới sự giúp đỡ trực tiếp của M. Công trình của ông đưa ra khái niệm cú trong tiếng Việt, hệ thống chuyển tác và các quá trình trong cú. Bên cạnh những công trình nghiên cứu khái quát của các tác giả kể trên, còn có những nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Quy (1994), Nguyễn Văn Hiệp (2006), Nguyễn Thị Lương (2009)… Luận án tiến sĩ “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó – so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh” của Nguyễn Thị Quy (1994) chủ yếu quan tâm đến việc mô hình hóa cấu trúc tham tố của vị từ hành động tiếng Việt. Trong khi đó, công trình “Cấu trúc vị từ - tham thể và nghĩa miêu tả của câu” của Nguyễn Văn Hiệp (2006) giải thích khái niệm vị từ và vai nghĩa, phân loại các vai nghĩa của câu và các phương thức đánh dấu vai nghĩa.
Ông cũng đã đưa ra lý thuyết về các kiểu sự tình hay sự phân loại các nghĩa miêu tả. Mở rộng hơn cả là cuốn sách “Câu tiếng Việt” của Nguyễn Thị Lương (2009) nghiên cứu câu tiếng Việt từ góc độ ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Tác giả vận dụng lí thuyết vị tố - tham thể và lí thuyết hành động nói để nghiên cứu hai thành phần tạo nên nghĩa tường minh của câu: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái. Tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ của cấu trúc vị tố - tham thể với cấu trúc ngữ pháp chức năng.
Các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu cấu trúc vị tố (vị từ) – tham thể (vai nghĩa) chứ chưa tập trung vào nghiên cứu một loại câu cụ thể nào trong ngữ pháp chức năng. Về các luận văn thạc sĩ, có luận văn của Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2014) với đề tài “Chu tố được biểu hiện bằng động từ trong tiếng Việt”, với điểm mới là miêu tả đặc điểm về hình thức và đặc điểm ý nghĩa của chu tố động từ, các kiểu chu tố được biểu hiện bằng động từ trong tiếng Việt, từ đó phân loại và mô tả vị trí của các chu tố đó trong câu. Hơn nữa, trong phạm vi tìm hiểu của tác giả luận văn, mặc dù có công trình liên quan đến nghiên cứu câu tác động của Nguyễn Thị Quy (1994) là 2 tiến hành so sánh vị từ hành động trong tiếng Việt với ngôn ngữ khác nhưng vẫn chưa có công trình nào so sánh với tiếng Nhật về mặt ngữ pháp chức năng. Về mặt ngữ dụng học, có công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất của Đỗ Hữu Châu (2007), “Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học”, tái bản lần thứ ba.
Công trình này đã giới thiệu tới người học khái niệm ngữ dụng học, phân tích các hành vi ngôn ngữ, lí thuyết hội thoại, lí thuyết lập luận, hàm ẩn và nghĩa tường minh. Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác liên quan đến ngữ dụng và hàm ẩn của Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Huỳnh Công Hiển (2011), Nguyễn Thị Tố Ninh (2014)… Luận án Tiến sĩ của Đặng Thị Hảo Tâm (2003), “Cơ sở lý giải nghĩa hàm ẩn của hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại”, đã phân tích miêu tả các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong quan hệ với sự kiện lời nói, rút ra đặc trưng gián tiếp quy ước và gián tiếp phi quy ước. Tác giả cũng đưa ra quan niệm cá nhân về cách vận dụng mô hình lí giải nghĩa hàm ẩn. Cũng liên quan đến cơ chế tạo ra nghĩa hàm ẩn, luận án Tiến sĩ của Huỳnh Công Hiển (2011), “Các yếu tố tạo ý nghĩa hàm ẩn trong tiếng Việt(so sánh với tiếng Pháp)” đã làm rõ các phương thức tạo ra hàm ẩn như phương thức chiếu vật hàm ẩn, phương thức hành vi ngôn ngữ hàm ẩn.
Công trình cũng phân tích yếu tố lập luận hàm ẩn, yếu tố lô-gích hàm ẩn, yếu tố tiền giả định hàm ẩn và yếu tố hội thoại hàm ẩn. Điểm mới của luận án này là có nghiên cứu so sánh giữa tiếng Việt với tiếng Pháp. Tiếp nối các công trình nghiên cứu hàm ẩn trước, luận án Tiến sĩ “Hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý trong tiếng Việt” của Nguyễn Thị Tố Ninh (2014) đã phân loại hàm ý theo các tiêu chí: phương tiện biểu hiện, số lượng tầng nghĩa của phát ngôn, quan hệ với nghĩa tường minh, mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp và quan hệ với các nghĩa hàm ẩn khác. Công trình cũng làm rõ phương thức biểu thị hàm ý trong tiếng Việt và thử đề xuất một danh sách các phương thức biểu thị hàm ý.
Các công trình nghiên cứu về hàm ẩn ở trên đã lý giải nghĩa hàm ẩn từ các hành vi ngôn ngữ gián tiếp, phân tích các phương thức tạo ra hàm ẩn khác nhau và phân loại hàm ẩn theo nhiều tiêu chí. Tuy nhiên, các công trình đó chỉ nghiên cứutrong phạm vi tiếng Việt, chưa có sự so sánh với tiếng Nhật. Các nhà ngôn ngữ học người Nhật cũng đã sớm quan tâm đến lĩnh vực ngữ dụng học, họ có nhiều công trình nghiên cứu được xuất bản thành sách bằng tiếng Nhật và cả tiếng Anh. Liên quan đến vấn đề ngữ dụng trong hội thoại có công trình “Pragmatics in second language acquisition in the case of learning Japanese” của Hiroko Takada (1993).
Ông đã nghiên cứu về vấn đề ngữ dụng thể hiện qua hội thoại và giao tiếp liên văn hóa hướng đến đối tượng 3 những người học tiếng Nhật như là ngôn ngữ thứ hai, nhằm giúp họ tránh được những hiểu lầm không đang có khi giao tiếp với người Nhật. Ở tiếng Nhật, dù có định nghĩa về câu tác động trong từ điển 精選版日 本国語大辞典, nhưng loại câu trái ngược với nó là câu bị động lại được quan tâm nhiều hơn. Điển hình cho các nghiên cứu về câu bị động là công trình “日 本語・ベトナム語・タイ語の受身対照比較-間接受身を中心に”của 容 守正寛(1999), tập trung nghiên cứu so sánh câu bị động gián tiếp giữa tiếng Nhật, tiếng Việt và tiếng Thái nhằm mục đích tìm ra sự khác biệt về phương thức ngữ pháp của loại câu này ở ba ngôn ngữ. Câu bị động cũng được đưa vào giảng dạy ngay ở giáo trình sơ cấp Minna no Nihongo.
Do đó, theo tìm hiểu của mình, chúng tôi nhận thấy các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa quan tâm nhiều về câu tác động trong tiếng Nhật. Từ những công trình nghiên cứu chúng tôi đã đưa ra ở trên, có thể thấy, nghiên cứu về câu tác động là một đề tài mới, nhất là nghiên cứu về mặt nghĩa biểu hiện và ngữ dụng. Đề tài của chúng tôi sẽ là làn gió mới góp phần thúc đẩy hướng tiếp cận mới của ngôn ngữ học ở Việt Nam.1 Câu tác động trong ngữ pháp chức năng 1.1 Khái quát về ngữ pháp chức năng Ngữ pháp chức năng hay ngôn ngữ học chức năng là một hệ lí thuyết và phương pháp coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người.